Ý nghĩa biểu trưng của nước trong tục ngữ, thơ ca Việt Nam

Ý nghĩa biểu trưng của nước trong tục ngữ, thơ ca Việt Nam

Quá trình dựng xây đất nước, mở mang bờ cõi của chúng ta có thể nói gắn liền với quá trình “trị thuỷ” mà câu chuyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh là một ví dụ.

Theo Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, ý nghĩa tượng trưng của “nước” có thể quy về ba chủ đề chiếm ưu thế: nguồn sống, phương tiện thanh tẩy, trung tâm tái sinh, ở châu Á, “nước là dạng thức thực thể của thế giới, là nguồn gốc của sự sống và là yếu tố tái sinh thể xác và tinh thần, là biểu tượng của khả năng sinh sôi nảy nở, của tính thanh khiết, tính hiền minh, tính khoan dung và đức hạnh. Ý nghĩa biểu trưng của nước trong tục ngữ, thơ ca Việt Nam.

Là chất lỏng, nước có khuynh hướng hoà tan; nhưng là chất thuần nhất, nó có khuynh hướng liên kết và đông tụ. Như vậy, nước có tương ứng với sattva (thanh khiết) nhưng vì nước chảy xuống chỗ thấp, xuống vực sâu, khuynh hướng của nó là tamas (trời); nước lan rộng theo mặt phẳng nằm ngang, khuynh hướng đó cũng là rajas (lan rộng)”, (trang 709-710). Là quốc gia có nền văn minh lúa nước lâu đời, có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và nằm bên biển Đông mênh mông sóng vỗ nên nước có một vị trí rất quan trọng trong đời sống văn hoá của người Việt Nam.

Trong văn học dân gian; trong nghệ thuật kiến trúc, đúc, chạm; trong phong tục tập quán và nhất là trong ngôn ngữ chúng ta đều thấy in đậm dấu ấn của hình ảnh nước. Tổ tiên Việt Nam, theo truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, có nguồn gốc từ nước. Hình ảnh nước còn để lại hoa văn trên trống đồng Đông Sơn hay xa hơn là trên các vật dụng bằng đất nung từ thời đô đá mới (các hình xoăn ốc, hình giọt nước, sóng nước…). Rồi những mái cong của đình làng, chùa chiền, miếu mạo… đã mô phỏng hình dáng con thuyền như một sự hoài niệm, một sự đồng vọng của tâm thức.

Ý nghĩa biểu trưng của nước trong tục ngữ, thơ ca Việt Nam - Ảnh 1

Sách Lĩnh Nam chích quái có chép như sau về người Việt cổ: “lặn giỏi, bơi tài, thạo thuỷ chiến, giỏi dùng thuyền”. Những điều đó cho thấy nước từ lâu đã gắn bó với đời sống, sinh hoạt của người Việt Nam. Nước là biểu tượng của sự sống, của sự tái sinh bất tận, của nòi gống, sự trong trẻo và bao la tình người. Có lẽ chỉ người Việt mới dùng từ nước (hoặc đất nước, non nước, nhà nước…) để gọi một quốc gia. Hình ảnh nước đi vào tục ngữ với nhiều nét nghĩa cực kỳ phong phú. Sự mênh mông, sâu lắng; sự mát mẻ, trong xanh; sự gắn bó không thể thiếu trong cuộc sống cùng cả sự dịu êm và dữ dội… là cơ sở cho mối liên tưởng tương đồng giữa hình ảnh nước (cụ thể) với trạng thái tình cảm (trừu tượng).

Cũng giống như ca dao, nước được dùng để biểu trưng cho tình cảm con người. Tuy nhiên, sự khác nhau của hai thể loại này thể hiện rất rõ nét dù đều dùng chung một chất liệu tạo hình. Trong ca dao, hình ảnh nước thường được dùng để biểu đạt tình cảm lúa đôi: “Tinh anh như nước dâng cao…”; “Tưởng nước giếng sâu anh nối sợi dây dài; Ai ngờ nước giếng cạn, anh tiếc hoài sợi dây”; “Ngó hoài ra tận biển Đông; Thấy mây thay nước sao không thấy nàng”… Tình cảm trong tục ngữ thiên về lý trí, là phản ánh kinh nghiệm được đúc kết từ những quan hệ ứng xử chung, nếp nghĩ chung của một cộng đồng… chứ không phải của một chủ thể trữ tình.

Ví dụ như: “Ăn đời ở kiếp chi đây, Coi nhau như bát nước đầy thì hơn”. “Bát nước đầy”biểu đạt cho tình cảm tốt đẹp, trọn vẹn, chí tình. Mối quan hệ tình cảm đó có thể ứng với mối quan hệ láng giềng, anh em, bè bạn, đồng nghiệp…; Hoặc: “Chị em dâu như bầu nước lã, chị em gái như cái nhân sâm”; “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”… Cũng là nước nhưng ở tổ hợp “nước lã”, “bầu nước lã”… thì nó lại mang nét nghĩa tình cảm nhạt nhẽo, không có sự đậm đà, gần gũi, một mối quan hệ xa cách, lạnh lùng… Trong các câu: “Nước có nguồn; cây có gốc”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Uống nước nhớ kẻ đào giếng”… nước lại được dùng để biểu đạt về đạo lý sống rất quen thuộc của người Việt Nam: sự biết ơn, lòng chung thuỷ, sống có trước có sau.

Chính những quan niệm như thế nên người ta khuyên cần giao đãi sao cho đúng mực và có tâm lòng bao dung, vị tha vì “Nước nóng còn có khi nguội”… Nếu không biết giữ gìn, để sứt mẻ tình cảm thì rất khó tìm lại được sự hoà họp thuở nào vì: “Nước đổ khó hốt”. Là chất lỏng để uống, để sinh hoạt hàng ngày và rất cần thiết cho chăn nuôi, trồng trọt nếu không nói là cho muôn loài nên nước còn là biểu trưng cho sự sống, sự tái sinh. Sự quý giá, trân trọng đối với nước cũng như đối với hạt gạo nếu không nói còn cao hơn. Tục ngữ ta có câu: “Thí một chén nước, phước chất bằng non”… Câu tục ngữ mang dấu ấn của tư tưởng Phật giáo nhưng rất gần gũi với tâm hồn của người Việt.

Ý nghĩa biểu trưng của nước trong tục ngữ, thơ ca Việt Nam - Ảnh 2

Đồng thời, nó cũng cho ta thấy ông cha ta đã trân trọng giá trị của nước như thế nào. Trước đây, có những gia đình đặt trước cổng nhà một lu nước mưa để giúp người bộ hành đỡ khát vào thời buổi phương tiện đi lại chủ yếu của người nghèo là đôi chân đất. Nước còn được dùng để biểu trưng cho sự bền bỉ, cho sức mạnh ý chí con người. Ví dụ: “Nước chảy, đá mòn”, “Nước chảy lâu, đâu cũng tới”;… Từ một hình ảnh sinh động cụ thể, sự đối lập giữa hai thực thể lỏng – rắn, chúng mang lại một hàm ý triết lý sâu xa qua cơ chế chuyển nghĩa ẩn dụ. Ở đây, nghĩa đen cụ thể hầu như không còn tồn tại; người đọc chỉ nghĩ đến nghĩa biểu trưng, nghĩa trừu tượng khái quát của nó.

Câu tục ngữ không chỉ nói lên sự bền chí mà còn ngợi ca lao động. Nó có thể được dùng để khuyên dạy hoặc tự an ủi hay để nêu quyết tâm khi bắt tay vào làm một công việc gì. Nó có thể được dùng để khẳng định một quy luật, một chân lý mang tính khái quát cao hoặc dùng để đề cập một sự việc, một vụ việc cụ thể. Không chỉ biểu đạt cho tình cảm, ý chí, nước còn được dùng để biểu trưng cho phẩm chất, đức hạnh của con người. Cùng từ một nguồn và lưu chuyển một dòng nhưng nước có chỗ đục, chỗ trong; nơi sạch, khúc bẩn. Cũng giống như thế giới nhân sinh, cùng một cộng đồng nhưng mỗi người một vẻ; có kẻ thất phu, có người quân tử…

Và, người ta tìm thấy ở nước những nét tương đồng: “Nước giữa dòng có khi trong khi đục, người trong đời có kẻ tục kẻ thanh”. Hình ảnh này cũng được tục ngữ dùng để nêu lên một quan niệm về triết lý nhân sinh: “Nước suối có bao giờ đục”, ở đây, hình ảnh “nước suối” có nét nghĩa tương đồng cùng tùng, cúc, trúc, mai, thông, bách… trong văn chương trung đại hay hình ảnh hoa sen trong ca dao. Đấy là sự khẳng định giá trị, ngợi ca phẩm chất của con người. Cũng có khi nước được dùng để biểu trưng cho sự thăng trầm của kiếp nhân sinh: “Người có lúc vinh lúc nhục, nước có lúc đục lúc trong”. Câu tục ngữ như một lời an ủi, một sự khuyên bảo mà cũng biểu đạt cả sự ung dung, tự tại, lạc quan, trải đời.

Sự trong đục của nước cũng được dùng biểu trưng cho hoàn cảnh xã hội hoặc một cơ hội, dịp may nào đó. “Nước đục” thường được dùng để biểu trưng cho sự thiệt thòi do bỏ lỡ thời cơ; một hoàn cảnh rối ren, không minh bạch và đấy cũng là điều kiện cho những kẻ cơ hội lợi dụng làm điều xấu, hưởng lợi không xứng đáng với cương vị và phẩm hạnh của mình. Điều này thể hiện qua câu “Đục nước béo cò” hoặc “Thừa nước đục thả câu”. Câu tục ngữ “Trâu chậm uống nước đục” lại có nét nghĩa biểu trưng phê phán những người không biết tận dụng thời cơ, thiếu năng động trong cuộc sông nên cuối cùng phải “uống nước đục”, rước phần thiệt về mình.

Ý nghĩa biểu trưng của nước trong tục ngữ, thơ ca Việt Nam - Ảnh 3

“Nước đến chân mới nhảy” thì phê phán những người hời hợt, lề mề, không chủ động, chẳng biết lo xa để sự việc quá cận kề̀ mới ứng phó nên không đạt hiệu quả. Hình ảnh nước còn được nhân dân ta dùng để biểu trưng cho tinh thần lạc quan, cho nghị lực, không buông xuôi, đầu hàng dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào qua câu: “Còn nước còn tát”. Nước cần thiết và quan trọng đối với con người biết bao nhưng không phải lúc  nào nước cũng đem đến cho ta sự ngọt ngào, mát mẻ, dịu dàng… Lịch sử thế giới đã chứng kiến biết bao trận đại hồng thuỷ. Riêng ở nước ta, có năm nào Thuỷ Tinh không nổi giận?

Hệ thống đê điều ở miền Bắc cho thấy nhân dân ta đã đổ biết bao công sức để chống với thuỷ tai. Điều đó đủ thấy sự dữ dội của nước và đó cũng là cơ sở để hình ảnh nước còn được dùng biểu trưng một nét nghĩa khác. Đấy là biểu đạt sự phản kháng khi bị chèn ép quá mức chịu đựng; biểu đạt một quy luật tất yếu của xã hội, có áp bức là có đấu tranh qua câu: “Tức nước vỡ bờ”… Tính biểu trưng là một trong những đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam mà tục ngữ là sự thể hiện tiêu biểu nhất. Nghĩa biểu trưng còn có khả năng tác động sâu sắc đến cả lý trí và tình cảm con người vì nó được thể hiện bằng những hình ảnh thực tế, được nhận thức từ chính cuộc sống của cả một cộng đồng.

Đằng sau mỗi câu tục ngữ, đằng sau những hình ảnh, những kinh nghiệm khái quát từ chính cuộc sống ấy là bản sắc văn hoá dân tộc, là phong cách sống, là lối tư duy riêng của con người Việt Nam. Hơn nữa, qua tục ngữ, chúng ta còn thấy được khả năng sáng tạo, sự liên tưởng vô cùng phong phú của người Việt cũng như sự giàu đẹp của tiếng nói dân tộc. Những nét phác thảo về nét nghĩa biểu trưng mà người viết bàn qua hình ảnh nước đã phần nào chứng minh điều đó.

Nguồn tổng hợp

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *