Luật nhân quả và điều cấm kỵ trong văn hóa người Trung Quốc

Luật nhân quả và điều cấm kỵ trong văn hóa người Trung Quốc

Trung Quốc – một đất nước với nền văn hóa lâu đời, cũng có khá nhiều những kiêng kỵ không chỉ riêng vào những ngày lễ tết, mà tất cả các ngày.

Tuy người Việt Nam cũng có những điều kiêng kỵ không nên làm, nhưng đa số đều không quá khắt khe, ví dụ như quét nhà, lau nhà vào ngày Tết chẳng hạn. Nhưng người Trung Quốc lại khác, họ tìn vao luật nhân quả và điều cấm kỵ trong văn hóa người Trung Quốc điều được kiêng kỵ triệt để.

Nguồn gốc của cấm kỵ

Trong sinh hoạt hằng ngày, chúng ta thường được khuyến cáo: “Đừng làm thế, tránh sinh chuyện”. Tuy nhiên, giữa “làm thế” và “chuyện” ấy không hẳn có mối quan hệ logic tất nhiên, nhưng từ đời này qua đời khác, sức mạnh vô hình của nó sẽ chế ước hành vi của người ta. Cấm kỵ là sản phẩm ra đời từ xã hội nguyên thuỷ, khi mà năng lực tư duy của con người hãy còn rất thấp. Sự ra đời ấy có nguyên nhân xã hội phức tạp, nhưng cấm kỵ không biến mất, mặc dù năng lực và trí tuệ của con người càng ngày càng được nâng cao, và cấm kỵ vẫn tiếp tục phát triển. Có thể nói, chỗ nào có con người, chỗ ấy có cấm kỵ.

Luật nhân quả và điều cấm kỵ trong văn hóa người Trung Quốc - Ảnh 1

Sự ra đời của cấm kỵ

Cấm kỵ là những hành vi bị cấm, phá hoại cấm kỵ tất nhiên sẽ phải trả giá. Thông thường, “cấm kỵ” là một quan niệm thuộc phong tục tập quán, về mặt ý nghĩa, nó có sự phân biệt rất rạch ròi với những điều “cấm chỉ” trong pháp luật và những điều “không được” trong quy phạm đạo đức. Trong phong tục tập quán, sự “cấm kỵ” được xây dụng trên cơ sở của cộng đông xã hội. Cấm kỵ ra đời khi năng lực tư duy của con người còn rất thấp. Bởi người nguyên thuỷ, khi đứng trước những sức mạnh hung tàn của tự nhiên, họ sinh ra cảm giác sợ hãi và có hành vi chạy trốn.

Sự sợ hãi và chạy trốn ấy là bản năng của con người, nó cũng tương tự như bản năng của động vật. Chỉ có điều, bản năng của con người là “bản năng được ý thức”. Sự sợ hãi Thương. Trong sách Lễ ký – một điển tịch về lễ tục của các triều đại từ Hán về trước – đã có ghi lại việc này. Thiên Tăng tử lập sự trong sách Đại đới lê ký viêt: “Người quân tử khi vào nước khác, không hỏi những điêu nước người ta kiêng, không phạm những điêu nước người ta câm”, đó gọi là “nhập gia tuỳ tục”. Như vậy, rõ ràng từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, cấm kỵ dân tục đã thịnh hành.

Vương thất nhà Thương rất sùng thượng chiêm bốc. Tất cả những việc như: tế tự, xuất chinh, săn bắn, thành niên, mưa gió, bệnh tật… họ đều hơ nóng những mai rùa và xương thú, rồi căn cứ vào những vết rạn nứt trên đó để đoán việc lành hay dữ, rồi ghi chép lại. Đây chính là bốc từ Ân Khư (tức giáp cốt văn). Đương thời, người ta dựa vào những vết nứt trên ấy để quyết định có nên hành sự hay không. Khi thầy bói và người đương sự cho rằng những vết nứt mang ý nghĩa không tốt có liên quan đến những việc muốn làm, thì họ sẽ ngưng không tiến hành nữa để tránh tai hoạ.

Đây chính là một hiện tượng cấm kỵ. Theo phát hiện của khảo cổ, sự xuất hiện của hiện tượng bói bằng xương bắt đầu vào cuối thời đồ đá mới (hơn 4000 năm trước) và thịnh hành vào đời Thương; đời Chu cũng có phát hiện. Như vậy, từ hơn 4000 năm trước, vào cuối thời đồ đá mới, hiện tượng cấm kỵ đã tồn tại.

Nguyên nhân ra đời những cấm kỵ

Sự hình thành đầu tiên về quan niệm cấm kỵ gắn liền với sinh hoạt vật chất của xã hội loài người. Quan niệm cấm ky sản sinh vào thời mà sức sản xuất xã hội còn thấp. Người nguyên thuỷ phải trải qua hàng vạn năm để thích ứng với giới tự nhiên, từ thời mông muội hái lượm và săn bắt các sản vật của tự nhiên đến thời đại dã man tập nuôi gia súc và canh tác nông nghiệp. Đối với những sự vật hình tượng cụ thể, các quá trình hiện tượng tự nhiên, cho đến quan hệ giữa các hiện tượng tự nhiên với nhau; con người đã có một nhận thức nhất định.

Người ta đã thấy một số hiện tượng tự nhiên có thể mang đến cho họ sự ấm no và sáng sủa. Lại có một số hiện tượng tự nhiên mang đến cho họ sự uy hiếp và chết chóc. Và người ta thường đặt niềm hy vọng vào những hiện tượng tự nhiên đem lại những lợi ích vật chất, mà sinh ra sợ hãi các hiện tượng tự nhiên mang đến cho họ những tai hoạ. Bởi vì, đương thời năng lực nhận thúc về tự nhiên của con người còn nhiều hạn chế, sức sản xuất ở trình độ thấp; cho nên ngoài việc cố gắng chinh phục tự nhiên, chủ yếu người ta vẫn lấy sự thích ứng và phục tùng tự nhiên làm phương thức sinh tôn cơ bản.  Bởi vậy, họ không thể chiến thắng được những nguy hiểm và sự đáng sợ của sức mạnh tự nhiên, họ chỉ có thể hứng chịu và chạy trốn.

Khả năng nhận thức thấp kém của loài người là nguyên nhân ra đời của quan niệm về cấm kỵ. Người nguyên thuỷ dần dần có nhu cầu bức thiết muốn tìm hiểu giới tự nhiên có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ. Họ muốn biết thuộc tính của các vật trong tự nhiên như động vật, thực vật và các loại thiên thể có quan hệ mật thiết với con người. Nhưng toàn bộ giới tự nhiên khiến người nguyên thuỷ cảm thấy bí hiểm, không thể giải thích được, do vậy sinh ra ý thức sùng bái tự nhiên. Sau khi tôn giáo nguyên thuỷ ra đời, quan niệm về thần linh, sùng bái tự nhiên; thì đối tượng của cấm kỵ, ngoài những cấm kỵ đối với sự vật nguy hiểm trong giới tự nhiên lại sinh thêm cấm kỵ đối với thần – vật tự nhiên.

Luật nhân quả và điều cấm kỵ trong văn hóa người Trung Quốc - Ảnh 2

Sợ hãi, mê tín và cấm kỵ

Nguyên nhân của cấm kỵ có thể do được truyền thừa, ban đầu là vì người ta không thoát khỏi sự sợ hãi ngây muội và mê tín đối với tự nhiên bao la. Những thiên tai, nhân hoạ như dịch bệnh, chết chóc, động đất, chiến tranh… không biết khi nào sẽ giáng xuống đầu người ta. Do đó, tâm lý sợ hãi của con người khó có thể bị tiêu trừ. Những tai họa tưởng tượng trong quan niệm cấm kỵ, trên thực tế, lại có thể trừng phạt người ta. Điều này khiến cho cấm kỵ có động lực khách quan để truyền lại đời sau.

Nhưng, nguyên nhân chủ yếu của việc truyền thừa các cấm kỵ còn ở phương diện chủ quan của con người. Qua mấy nghìn năm, nền văn hoá phong kiến Trung Quốc đã hạn chế sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Đặc biệt là những người lao động ở giai cấp dưới rất khó thâm nhập, nắm bắt và phân tích chính xác những chân lý khoa học tồn tại trong giới tự nhiên và xã hội con người. Họ cho rằng sức mạnh siêu nhiên của quỷ thần đã khống chế tự nhiên và nhân quần.

Rất nhiều nhà có dán năm chữ lớn “Thiên Địa Quân Thân sư” trên khám thờ thần giữa nhà. Cùng với tranh tượng Quan Âm, thần Tài và bài vị của tổ tiên, còn có thần cửa, thần bếp, thần thổ địa. Mỗi khi có lễ Tết, người ta đều cúng tế, nhang khói lễ bái tổ tiên và thần thánh. Sau khi chết, họ còn làm rất nhiều nghi thức mai táng. Đó là vì kính sợ quỷ thần, tổ tiên mà sinh ra những cấm kỵ mê tín. Tóm lại, ngoài những tai hoạ khách quan khó tránh khỏi, chủ quan con người còn mê tín và sùng bái sức mạnh siêu nhiên. Cho nên, dưới sự chi phối của tâm lý cầu lợi tránh hại, người ta sẽ tiếp thu những tập tục và cấm ky mà tiền nhân để lại.

Sự chi phối của tâm lý trơ lì

Trong tâm lý xã hội phức tạp của con người, có một hiện tượng tâm lý khá phổ biến, đó chính là tâm lý trơ lì. Chẳng hạn, thấy những người chung quanh đều làm vậy, nghe những người chung quanh đều nói vậy, thì mình cũng không còn giữ được sự độc lập trong suy nghĩ nữa, cứ thế nhắm mắt làm theo, nói theo số đông. Hoặc với những quan điểm từ xưa đến nay đã trở thành tập quán, truyền thống thì mình cũng phải dựa theo những tập quán và truyền thống ấy.

Cấm kỵ dân gian mấy trăm năm, mấy nghìn năm trước đủ để truyền lại đời sau, đủ để lan truyền rộng rãi. Và đó chính là cơ sở để tâm lý trơ lì xuất hiện. Hầu hết người ta đều không biết cấm kỵ có ý nghĩa gì, nhưng thấy người khác làm vậy thì cứ yên chí nhắm mắt làm theo, mà tuyệt không tìm hiểu hay phản đối những cấm kỵ ấy. Những người có trình độ tri thức khoa học cao thì không hoàn toàn tin vào những điều cấm kỵ. Nhưng họ lại bị tác động, áp lực từ phía những người già, những người thân thích chung quanh và số đông trong xã hội; kết quả là họ cũng xuôi theo những người kia. Chẳng hạn, vào dịp tết nhất, trong không khí vui vẻ, người già chú ý cấm kỵ những lời nói và cử chỉ “bất cát” (không lành).

Nếu không tuân thủ những cấm kỵ ấy, mà nói một câu hay có một vài cử chỉ phạm vào những điều cấm kỵ thì họ sẽ nổi giận vì cho rằng như vậy là phá hoại không khí vui vẻ của ngày tết, là “vô ý vô tư”. Trong hôn lễ, nếu không tuân thủ, không dựa theo những cấm kỵ mà người già và thân thích tin, thì cũng bị khép vào tội phá hoại không khí vui vẻ trong hôn lễ. Trong tang lễ, khi mọi người đang đau khổ, nếu ai phạm vào những cấm kỵ, thì có thể họ càng thêm sợ hãi và giận dữ, dẫn đến bất hoà trong quan hệ sau đó. Trong những trường hợp như vậỵ, nhiều khi người ta cứ nhắm mắt theo số đông, hoặc buộc phải theo số đông. Tất nhiên, từ đó sẽ tạo ra tâm lý trơ lì ngày càng trầm trọng.

Luật nhân quả và điều cấm kỵ trong văn hóa người Trung Quốc - Ảnh 3

Tác dụng giáo hoá của cấm kỵ

Tác dụng cơ bản của cấm kỵ có lẽ là sự trùng phạt những kẻ cho rằng “không thể làm như vậy được” (tức những kẻ chống lại cấm kỵ). Điều này có vẻ như rất gần gũi với quan niệm nhân – quả của Phật giáo và thuyết thiện – ác báo ứng của dân gian. Bởi vậy, cấm kỵ thường được cho là có tác dụng giáo hoá, tăng thêm sức uy hiếp cưỡng chế cấm chỉ những điều xằng bậy. Những đứa trẻ làm “chuyện quấy” sẽ phải chịu sự “trừng phạt”, đó thường là những tài liệu tốt nhất để các bậc cha mẹ dạy dỗ con cái.

Như quyển sách Pháp uyển châu lâm chép chuyện rằng: Con gái của Vi Khánh Trục và Triệu thái thú đều khoảng 13-14 tuổi. Một đứa vì tuỳ tiện sử dụng đồ đạc mà không bẩm báo với cha mẹ nên phải chết oan; đứa kia thì gạt cha mẹ lấy tiền mua phấn sáp, chưa về đến cổng đã chết. Sau khi chết cả hai đứa đêu bị biến thành dê để người ta phanh thây mổ thịt. Thời Bắc Tống, khi xây dựng cung điện Lạc Dương, việc rất gấp mà cột kèo và song cửa toàn phải dùng đến tro xương; cả đến xương trâu, dê, lợn trong và ngoài thành Lạc Dương đều đã bị vét nhẵn mà vẫn không đủ.

Người chịu trách nhiệm chính trong việc này là Lý Thực bèn cho đào xương cốt của những người ở đầm Lậu Trạch lên mà thêm vào. Được mấy bữa, Lý phát bệnh mà chết, sau khi xuống âm ty còn bị quỷ theo đòi tro xương và hàng trăm hồn ma kiện Lý với Diêm vương. Có thể thấy rằng, trong việc này, thiện-ác, nhân-quả báo ứng và cấm kỵ đã hỗn dung thành một thể. Sự cầu nguyện của người ta về cái gọi là “thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo” trong những chuyện có liên quan đến cấm kỵ lại trở thành sự thực.

Hiệu quả “khuyến trừng” đó thì cấm kỵ vượt xa bất cứ hình thức giáo hoá nào khác của con người trước những thứ hung tàn trong tự nhiên như rắn độc, hổ… sinh ra ký ức. Và ấn tượng ký ức lặp lại nhiều lần sẽ hình thành quan niệm: loài động vật ấy thật đáng sợ. Ví dụ, người nguyên thuỷ sợ hổ, muốn né tránh quan niệm về hổ, thì đó chính là mầm mống cấm kỵ đối với hổ. Cấm kỵ ra đời sớm nhất vào thời mông muội của loài người, tức là khi nhân loại chưa có một ngôn ngữ rõ ràng, chưa thể mượn ngôn ngữ để tư duy.

Nếu khảo sát những ghi chép trong văn tự thì có thể tìm thấy những chứng cứ trực tiếp về hiện tượng cấm kỵ từ trong tản văn thời Chiến Quốc, dân ca thời Xuân Thu, giáp cốt văn trước sau thời. Ngược đãi thân nhân cũng là một điều cấm kỵ. Người vi phạm phải chịu âm trách, sét đánh, hổ ăn thịt, biến thành chó thành lợn. Theo sách Độc dị ký (quyển thượng) và Lý viên tùng thoại (quyển 17) thì đời Đường và đời Thanh đều có một ả bất hiệu lấy phân chó và phân gà cho mẹ chồng mù loà ăn. Sau đó không lâu, trời nổi giận biến một ả mang đầu chó, ả kia thành lợn. Ả mang đầu chó bị quan phủ dẫn đi bêu riếu khắp nơi, người ta gọi ả là “người đàn bà đầu chó". Còn ả mang thân lợn thì phải ăn phân, mỗi ngày có hàng nghìn người đến xem.

Bội ngược với những bậc thân thích tôn kính, tự tiện sửa đổi tên huý của cha, đoạt thọ quan của mẹ, không tống táng tận lòng, thậm chí giết hại cha mẹ thì phạm vào những cấm kỵ nghiêm trọng, phải chịu sự trừng phạt hết sức tàn khốc, như bị sét đánh cháy, mãnh hổ ăn tươi nuốt sống. Trong sách Xuyết canh lục (quyển 28) ghi một chuyện rất lạ lùng như sau: Có một tên hung đồ tên là Dương Chấn ở Hàng Châu thời Nguyên, tính tình lỗ mãng cộc cằn, hết sức bất hiếu với mẹ.

Một lần, người vợ lỡ tay làm thăng bé ba tuổi mà chồng thị rất cưng bị xây xát, sợ chồng về biết chuyện sẽ đánh chết nên cô muốn nhảy sông tự trầm, nhưng mẹ chồng khuyên ngăn và bảo rằng cứ nói tội đó là của bà, hãy tạm lánh đến nhà em chồng. Không ngờ đứa nghịch tử lần ra, mang dao giấu ở giữa đường, định dỗ ngon dỗ ngọt cho vợ trở về, rồi lúc đi ngang qua chỗ giấu dao sẽ lôi ra giết vợ. Nhưng khi đến đó, y không thấy con dao đâu cả, lại có một con rắn rất lớn nằm chắn ngang đường, y sợ hãi lùi lại, nhưng hai chân bị lún xuống đất, thất khiếu trao máu, nằm sóng soài.

Người vợ không biết làm sao, bèn chạy đi báo cho mẹ chồng. Hai người ra sức đào bới đất cát để cứu y, nhưng càng đào thì y càng bị lún sâu hơn, chỉ còn thò lên cái đầu. Họ không dám đào nữa, đành hằng ngày mang cơm nước đến cho y, ba ngày sau thì y chết. Mỗi ngày có đến mấy nghìn người đến xem. Đối với những kẻ ngang ngược thì phải dùng luật pháp để trói. Nhưng ngày xưa, dân chúng “kính nhi viên chi” đối với pháp luật. Họ muốn để sức mạnh siêu nhiên trừng trị những kẻ có hành vi vô đạo đức, dám vi phạm những điều cấm kỵ. Người ta cũng không muốn báo quan, mà tin vào báo ứng luật nhân quả và điều cấm kỵ trong văn hoá. Những điều cấm kỵ như vậy có căn cứ và cũng có sức lay động người ta.

Nguồn tổng hợp

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *