Giáo sư Trần Văn Khê – người vinh danh âm nhạc dân tộc

Giáo sư Trần Văn Khê - người vinh danh âm nhạc dân tộc

Trần Văn Khê là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng ở Việt Nam. Ông là người có bề dày trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, có công trong quảng bá âm nhạc Việt Nam nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung ra thế giới.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Khê – người vinh danh âm nhạc dân tộc là sinh ra trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ. Quê nội làng Vĩnh Kim (thị xã Chợ Giữa), quê ngoại làng Bình Đông Hoà (Mỹ Tho). Cả hai bên nội, ngoại đều gốc Huế. Cố nội là cụ Trần Quang Thọ, một nhạc sĩ tài danh của ban nhạc cung đình Huế, vào Nam lập nghiệp, sinh 7 người con. Ông nội là ông Năm Diệm chuyên đờn tỳ bà theo phong cách Huế. Người cha là ông Trần Văn Chiều (thường gọi là Bảy Triều) biết đàn kìm (đàn nguyệt), đàn độc huyền (đàn bầu) và đàn cò (đàn nhị). Theo gia phả dòng họ Nguyễn Tri thì cố ngoại của ông là danh tướng Nguyễn Tri Phương, hậu duệ các đời sau là ông ngoại Nguyễn Tri Túc, cậu Nguyễn Tri Khương (cậu Năm Khương) đều sinh trong Nam. 

Trường Pétrus Ký (trung học Trương Vĩnh Ký – nay là Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong), ông lấy bằng Tú tài toàn phần năm 1941 rồi ra Hà Nội học trường Y. Thời gian này, ông gặp nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng và Mai Văn Bộ, cùng tham gia vào ban nhạc của Trường Y Hà Nội. Mấy tháng sau ngày nhập học ông phụ trách ban nhạc của trường, đến năm 20 tuổi ông chỉ huy dàn nhạc biểu diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội và bước đầu giới thiệu nhạc dân tộc. Ông hợp tác với các bằng hữu cùng chí hướng như Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Thành Nguyên là những người có tinh thần dân tộc sâu nặng, có lòng yêu nước mạnh mẽ “cùng nhau khuấy động lên một phong trào thanh niên lành mạnh, cũng như khơi dậy tình dân tộc, tình dân tộc có được thể hiện qua các hành khúc đầu tay của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước” (Hồi ký Trần Văn Khê).

Giáo sư Trần Văn Khê - người vinh danh âm nhạc dân tộc - Ảnh 1

Năm 1943, ông lập gia đình với bà Sương (người bạn gái cùng học ban Tú tài tại Sài Gòn) rồi tiếp tục ra Hà Nội học trường Y. Cuối năm 1943, ông trở lại Sài Gòn, năm sau đứa con trai đầu lòng ra đời được đặt tên là Trần Quang Hải. Đầu năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, ông tham gia vào Ban Tuyên truyền Nam bộ, hô hào tinh thần dân tộc trong quần chúng ở các vùng như Sa Đéc, Mỏ Cày… ông tình nguyện theo kháng chiến “Không phải là mình hoạt động cách mạng (hiểu theo nghĩa được tổ chức giáo dục và phân công), chỉ vì lòng yêu nước và sự khát khao độc lập cho dân tộc với mong ước được góp phần khiêm tốn cua mình vào cuộc đấu tranh của toàn dân”. Theo kháng chiến, ông hoạt động văn nghệ, công tác ở Ban tuyên truyền Nam bộ, đi hát những bài có nội dung lịch sử, tinh thần chống ngoại xâm, chỉ huy dàn quân nhạc Nam bộ, phục vụ đồng bào trong các vùng từ Bạc Liêu, Cà Mau qua Năm Căn, U Minh…

Tổ chức những đêm hát lấy tiền nuôi thương binh của cơ sở quân y tại Lẩm Biện Tú. Đầu năm 1947, ông đưa vợ con về sống chung với một cán bộ kháng chiến tại Sài Gòn. Lúc này, vợ chồng ông đã có ba người con, hai trai, một gái vợ ông đang mang thai đứa con thứ tư. Ông tham gia kháng chiến tại thành dưới sự chỉ đạo của Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Cuộc sống khá ổn định nhưng một sự cố xảy ra, ông và người cán bộ bị bắt giam tại bốt Catinat. Vì không có chứng cứ, hai tuần lễ sau ông được thả về nhưng từ đó ông luôn bị mật thám theo dõi và bị bệnh mạch lương hành. Tháng 5 năm 1949, ông rời Sài Gòn bằng đường thuỷ sang Pháp để lánh mặt và trị bệnh, định bụng trong một vài năm sẽ về. Nhưng từ đó cho đến ngày hồi hương đằng đẳng đến 56 năm.

Bôn ba và thành danh ở quê người: Khởi đầu trên đất Pháp, ổng trai qua cuộc sống của một sinh viên nghèo tự lực cánh sinh. Vừa đi học Trường chính trị Paris (Sciences politiques de Paris) ông vừa viết báo kiếm sống, ông còn làm nhiều việc khác như: giới thiệu âm nhạc Việt Nam trong các hiệu ăn sáng của người Việt như La Table du Mandarin vùng Palais Royal, Bồng Lai ở Champs, đóng phim quảng cáo, và hai phim lớn như A Tom like Alice’’(phim chiến tranh) của hãng Rank Corporation của Anh quốc, Phim “La Rivière des 3 Jonques”phim gián điệp của Pháp, dịch văn kiện (từ Pháp ra Việt và ngược lại), thâu âm lồng tiếng từ Anh ngữ ra Pháp ngữ cho nhiều hãng Pháp, phối khí và ca những bài nhạc mới của các nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Nguyễn Hữu Ba, Lê Thương, Phạm Duy, Võ Đức Thu cho hãng đĩa Oria với tên gọi Hải Minh, nói chuyện về nhạc Việt Nam truyền thống và tân nhạc cho các Bảo tàng Viện và Đài phát  thanh Paris… ông tốt nghiệp Trường chính trị Paris năm 1951 môn Giao dịch quốc tế.

Thời gian này sức khoẻ suy yếu trầm trọng, ông trải qua những cơn đau thập tử nhất sinh, liên tục ra vào bệnh viện trong nhiều năm (từ tháng 8.1951 đến tháng 10.1954) nhưng ông vẫn không ngừng học tập. Ông kể lại: “Ngay trên giường bệnh, tôi vẫn tiếp tục nấu sử sôi kinh cho đến ngày thành tài. Tôi bắt đầu con đường nghiên cứu khoa học về âm nhạc. Tôi giảng dạy tại Đại học Sorbonne và nhiều đại học trên thế giới, đem âm nhạc Việt Nam đến khắp năm châu qua những lần thuyết trình trên các đài phát thanh truyền hình hay trong các chuyến đi tham dự hội nghị âm nhạc”. Để có được kiến thức uyên bác của một học giả như thế ông đã dùi mài kinh sử ròng rã bao nhiêu năm trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, từ những tư liệu về âm nhạc dân tộc có ghi trong “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, “Ức Trai thi tập”, “Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ”…

Giáo sư Trần Văn Khê - người vinh danh âm nhạc dân tộc - Ảnh 2

Ông còn theo học khoa Âm nhạc học tại Đại học Sorbonne, học môn lịch sử Việt Nam tại Collège de France… Sau một thời gian nghiên cứu ông bắt đầu viết bản luận án chính về đề tài Âm nhạc truyền thống Việt nam, đề tài này gồm có ba phần: lịch sử, nhạc khí và ngôn ngữ âm nhạc; luận án phụ viết về đề tài Khổng Tử và âm nhạc. Năm 1958, ông bảo vê luận án và đạt điểm tối ưu, được Ban giám khảo khen ngợi, được báo La Volonté Indochinoise ở Sài Gòn đăng tin; Đài phát thanh Pháp A tại Sài Gòn phỏng vấn thí sinh và Chủ tịch Ban giám khảo – GS Jacques Chailley. Sau đó quyển Bách khoa tự điển Lịch sử âm nhạc (Encyclopédie de la Pléiade) của Nhà xuất bản Gallimard (Pháp), in 9 trang Âm nhạc Việt Nam của tân tiến sĩ Trần Văn Khê.

Năm 1958, Unesco tổ chức tại Paris một cuộc hội thảo qui mô mang tên “Thế giới của âm nhạc”, ong được mời tham dự hội nghị lớn này với đề tài “Cảm nhận của nhạc sĩ phương Đông đối với âm nhạc phương Tây” và tham dự Đêm hoà nhạc do Unesco tổ chức (chung một chương trình với Nhạc sư Yehudi Menuhin (người Mỹ gốc Nga, đàn violon), Ravi Shankar (danh cầm Ấn Độ, đàn Sitar). Năm 1959, ông làm Giám đốc học thuật, trực tiếp điều hành Trung tâm nhạc học phương Đông (trung tâm nay hoạt động suốt 30 năm, tạo được nhiều uy tín trên thế giới. Ông được tuyển vào Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS Centre National de la Recherche Scientitique).

Ông đi diễn thuyết về đề tài âm nhạc truyền thống Việt Nam tại nhiều nước như Pháp, Đức, Anh, Thụy Sĩ, Trung Quốc, Nhật, Philippines, Brazil, Úc, Ba Tư, Hoa Kỳ, Canada, Ý, Maroc, Algérie, Liên Xô, Iraq… Ông tham dự nhiều hội nghị quốc tế về âm nhạc. Từ khi ra trường đến ngày về hưu ông đã tham dự trên 220, hội nghị và nhạc hội quốc tế. Năm 1960, ông được cử vào ban chấp hành của Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (thuộc Unesco) gồm 9 người mang quốc tịch khác nhau. Ông là người Việt đầu tiên được cử đại diện cho châu Á với nhiệm kỳ 6 năm, chi phí cho việc ăn ở đi lại đều được Unesco đài thọ. Ông hoạt động cho cơ quan này suốt 30 năm. Tôi may mắn được cậu Năm đề nghị và má tôi chấp nhận một sự “giáo thai” rất đặc biệt là được giáo dục âm nhạc từ trong bụng mẹ.

Hằng ngày, trong khi mang thai tôi, má được cậu Năm tôi đờn cò, đờn tranh, thổi sáo cho nghe. Trong gia đình, nhất là ông nội tôi và cậu Năm đều mong cháu của mình sau này trở thành nhạc sĩ để giữ truyền thống âm nhạc của hai gia đình nội, ngoại (“Ươm mầm trổ nụ”, Hồi ký Trần Văn Khê). Ông có năng khiếu âm nhạc từ thời thơ ấu. Sáu tuổi đã biết đàn kìm, đàn cò. Bảy tuổi biết ca rất đúng giọng và sống trong gánh hát Đồng Nữ Ban (gánh hát cải lương đầu tiên do người cô làm bầu gánh) lưu diễn từ làng tới tỉnh, từ tinh lên Sài Gòn. Năm chín tuổi, vì mồ côi mẹ ông về sống với cô Ba ở Chợ Giữa, theo học ba năm sơ học tại Tam Bình và đỗ kỳ thi sơ học năm 1934, sau đó lên Sài Gòn tiếp tục học 7 năm tại Thời kỳ này, chưa thể về miền Nam Việt Nam, ông nhờ một người Pháp về Sài Gòn đưa chương trình ghi âm do ông soạn trước cho giáo sư Nguyễn Hữu Ba để ra Huế ghi âm các loại nhạc cung đình, nhã nhạc, về các tỉnh miền Tây Nam Bộ thâu băng nhạc lễ, trống lạy…

Công trình này được Viện nghiên cứu âm nhạc Tây Bá Linh tài trợ.  Có được các loại nhạc do giáo sư Nguyễn Hữu Ba ghi âm tại Việt Nam, ông đã thực hiện hai đĩa hát mang tên Việt Nam I và Việt Nam II tại Tây Đức, phát hành năm 1967 (cả hai đĩa nhạc này đều ghi rõ do Trần Văn Khê và Nguyễn Hữu Ba chỉ đạo nghệ thuật). Đĩa Việt Nam I nhận được hai giải thưởng lớn về đĩa hát tại Cộng hoà Liên bang Đức (1969) và Pháp (1970). Cả hai đĩa hát này được xếp vào bộ sưu tập của Unesco. Quyển luận án “Âm nhạc Việt Nam truyền thống” được nhà xuất bản Les Presses Universitaires phát hành với sự cộng tác về tài chánh của CNRS và Bảo tàng Viện Guimet. Sách xuất bản bằng tiếng Pháp, sau đó được dịch ra tiếng Đức (1967), hơn 30 năm sau, nhà xuất bản Buchet Chastel tại Paris tái bản.

Giáo sư Trần Văn Khê - người vinh danh âm nhạc dân tộc - Ảnh 3

Ông cũng đã đọc tham luận tại Hội nghị quốc tế âm nhạc tổ chức tại Hamburg (Tây Đức) năm 1964 về nghệ thuật ca kịch của Việt Nam như hát tuồng, chèo vào cải lương với phần biểu diễn trích đoạn “Lữ Bố hí Điêu Thuyền” của cô Bảy Phùng Há và nghệ sĩ Kim Cương khi hai nghệ sĩ này đang có mặt tại Pháp. Một đời với di sản âm nhạc truyền thống: Những năm xa xứ, ông còn lập thân bằng nghe dạy học. Năm 1966, ông được thầy Chailley giới thiệu vào dạy tại Đai học Sorbonne. Đi dạy học còn là cơ hội để ông áp dụng những kiến thức đã nghiên cứu vào thực tiễn. Bước đầu, ông giảng dạy ngôn ngữ âm nhạc châu Á và Việt Nam. Là giáo sư Đại học Sorbonne, ông được nhiều trường đại học quốc tế mời dự hội nghị và hội thảo khoa học về âm nhạc truyền thống châu Á như cuộc thảo luận về đề tài “Có cần vay mượn bên ngoài để phát triển nhạc truyền thống hay không?

Nếu vay mượn phải làm như thế nào?” tại New York, ông có dịp nói chuyện với hàng trăm sinh viên về “âm nhạc Việt Nam” tại Los Angeles. Ông được mời sang nói chuyện tại Đại học Carbondale, tiểu bang Illinois (Mỹ), tại đây ông gặp hai nhạc sĩ Sài Gòn được mời tham dự là nhạc sư Vĩnh Bảo (giáo sư trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn) và nhạc sĩ Phạm Duy. Ông đã được mời giảng dạy tại 17 trường Đại học khắp năm châu. Ông thường phối hợp với các văn nghệ sĩ ở quê nhà mỗi khi họ sang biểu diễn, giao lưu tại Pháp hoặc các nước châu Au. Năm 1972, ông cùng biểu diễn với nhạc sư Vĩnh Bảo tại Pháp, được thu thanh thành đĩa hát nhạc tài tử lấy tên “Nhạc truyền thống miền Nam Việt Nam” để phát hành trong loạt dĩa âm nhạc truyền thống thế giới của hãng Ocora.

Hơn 20 năm sau, ông cùng nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng biểu diễn và thu thanh thành đĩa hát nhạc tài tử Việt Nam và đàn tranh. Dĩa hát này cũng do hãng Ocora sản xuất, sau khi phát hành nhận được hai giải thưởng “Dĩa hát hay nhất trong năm 1994” ở Đức và hạng nhất “Choe” của tạp chí Thế giới Âm nhạc ở Pháp (choc tiếng Pháp có nghĩa là chấn động). Cũng năm đó dĩa hát ông đã ghi âm với Nhạc sĩ Vĩnh Bảo, do Ocora xuất bản, được chuyển sang dĩa CD và được giải “Diapason d’or” của tạp chí Dia-pason tặng cho dĩa hát nào được người mộ điệu mua nhiều nhất. Năm 2002, ông tham gia “Những ngày văn hoá Việt Nam tại Đức”, giới thiệu tuồng Đông Lộ Địch do đoàn tuồng Bình Định tại Municli, Đức. Tháng 9 năm 2006, ông cùng các nghệ sĩ đờn ca tài tử, nhạc lễ miền Nam, nghệ sĩ ca trù, chèo, chầu văn miền Bắc, dàn Đại nhạc, Tiểu nhạc của Nhã nhạc cung đình Huế sang biểu diễn giao lưu tại Toronto (Ý).

Gần một phần tư thế kỷ lìa xa Tổ quốc, ông mới có dịp trở về. Đấy là sau khi ông dự Hội nghị âm nhạc quốc tế tại Perth (Úc). Ông trở về Sài Gòn lầ̀n đó được gia đình và văn nghệ sĩ đón tiếp thật cảm động, ông kể lại: “Hai con Quang Minh và Thuỷ Tiên chạy lên cầu thang máy bay, tôi ôm hai con, nhìn anh Bùi Văn Nhu, nhìn xuống mảnh đất quê hương mà nước mắt chảy dài không sao ngăn được, trong lòng xúc động không thể tưởng tượng nổi. Anh Bùi Văn Nhu cũng đưa hai em Trần Văn Trạch và Ngọc Sương ra đón tôi, anh em ôm nhau khóc. Cách đó không xa, mấy chục người đang chờ đón tôi. Phái đoàn của Hội nghệ sĩ rất đông, gồm anh Năm Châu, cô Phùng Há, Kim Cương và nhiều nghệ sĩ trẻ khác.

Trong giới nhạc có các anh Vĩnh Bảo, Vĩnh Phan, Nguyễn Hữu Ba… có cả những người bà con quen biết của tôi dưới tỉnh nghe tin tôi về nên lên đón như ông Chánh Ba ở làng Đông Hoà, con của mấy cậu cùng các cháu của tôi. Tôi ngẩn ngơ, chân đứng trên đất nước Việt Nam, được gặp lại bao nhiêu người đã 25 năm xa cách…” Từ đó, ông được dịp đi về với quê hương, ông có nhiều chuyến đi khắp đất nước để tìm hiểu cặn kẽ nền âm nhạc đa dạng của dân tộc. Ông ghi chép, phục hồi những gì sắp bị chìm vào quên lãng, giữ gìn cái hay cái đẹp cho thế hệ mai sau. Ông tiếp tục đem tiếng nhạc lời ca của đất nước đến bạn bè năm châu bốn bể, góp phần thắt chặt tình hữu nghị giữa các dân tộc. Ông đi khắp nơi để tiếp xúc với nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ trong giới nhạc thính phòng, nhạc dân tộc.

Giáo sư Trần Văn Khê - người vinh danh âm nhạc dân tộc - Ảnh 4

Phía Bắc, ông gặp bà Quách thị Hồ, bà Phúc là những nghệ nhân ca trù, ông Đinh Khắc Ban đờn đáy, cụ Trúc Hiền đánh trống chầu… thăm làng quan họ Bắc Ninh, ông được đón tiếp như một “liền anh” quan họ đi xa về. Ông gặp những nghệ sĩ kỳ cựu của hát bội tại TPHCM: bà Năm Đồ, cô Ba Út, ông Thành Tôn… và ghi âm những điều cần biết trong nghệ thuật hát bội miền Nam. Ông thu được 50 băng cassettes loại 90 phút. Ông ra miền Trung tìm hiểu hát tuồng Bình Định, Quảng Nam, nghiên cứu Nhã nhạc cung đình, ca Huế, nhạc cồng chiêng Tây Nguyện, đi điền dã các tỉnh miền Tây Nam bộ để thu âm, ghi hình về ca nhạc tài tử và cải lương… Năm 1994, Unesco tổ chức hai cuộc hội thảo khoa học tại Việt Nam: tại Hà Nội với đề tài “Bảo vệ và phát huy di sản ca vũ nhạc của dân tộc ít người” và hội thảo tại Huế với đề tài “Bảo vệ, phát huy di sản văn hoá của vùng Huế”.

Cuộc hội thảo này do ông chủ tọa, được Unesco tài trợ có mục đích cụ thể là giữ gìn và làm sống lại dòng nhạc cung đình Việt Nam. Tất ca góp phần làm nên “sự kiện” Nhã nhạc Huế được Unesco công nhận là di sản văn hoá phi vật thể và truyền miệng của nhân loại. Nói về sự nghiệp của mình, ông tâm sự “Trong đời mình, chẳng bao giờ tôi mong mỏi hay chờ đợi một sự tưởng thưởng nào, nhưng trong vòng hai chục năm qua tôi đã bất ngờ nhận được nhiều huân chương và giải thưởng quốc tế, kể theo thứ tự thời gian gồm: Chương mỹ bội tinh hạng nhất, Văn hoá bội tinh hạng nhất (của chánh quyền Sài Gòn). Chương mỹ bội tinh hạng nhì (Huân chương của Bộ văn hoá Chính phủ Pháp), Giải thưởng Quốc tế Koizumi Fumio (của Nhật Bản, về nhạc học dân tộc), hai bằng Tiến sĩ Danh dự về âm nhạc và nhạc học (của Đại học Ottawa và Đại học Moncton – Canada), Huy chương “Vì sự nghiệp văn hoá quần chúng” (của Bộ văn hoá thông tin nước CHXHCN Việt Nam), Huân chương Lao động hạng nhất (của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam), Huân chương Hàn lâm (của Bộ giáo dục Chính phủ Pháp).

Những năm ở hải ngoại, ông sống đơn độc tại căn hộ chung cư đường Clement Perrot (Paris – Pháp). Căn hộ này là nơi tập trung và lưu giữ vốn quí của âm nhạc truyền thống Việt Nam. Tuy việc sưu tập có tính cách tư nhân nhưng là một gia sản văn hoá phong phú và đa dạng. “Bụi thời gian âm thầm trên từng phím lõm dây đàn/ Những con chữ chẳng chịu ngủ yên/ Giữ bộn bề di sản âm nhạc dân tộc…”, Ông đã dâng tặng toàn bộ sự nghiệp tinh thần ấy cho đất nước. Tháng 12.2005, ông chính thức hồi hương, tiếp nhận ngôi nhà mới (32 Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh, TPHCM, do Nhà nước cấp), ước nguyện cuối đời của ông đã được Tổ quốc đón nhận, ông trở về quê hương “Như hạt phù sa tìm về bến đỗ/ về tắm lại trên dòng sông Tiền/ Đứng trên mặt đất quê mình… ” (T.H.L)

Sinh ra trên mảnh đất sông Tiền mà nội, ngoại đều là nghệ sĩ, được “giáo thai” âm nhạc truyền thống từ trọng bụng mẹ, được dạy đàn ca từ thời thơ ấu, dù xa quê hơn nửa thể kỷ nhưng với ông, Tiền Giang chính là đất nước. Khi ông trở về nhà cũ (nơi ngày xưa cậu Năm dạy học đàn) ông mong muốn được trùng tu căn nhà xưa thành nhà lưu niệm về đờn ca tài tử, làm nơi thờ phụng người tiền bối có công bảo tồn âm nhạc truyền thống, ông mong được “chân cứng đá mềm” để tiếp tục ghi âm, khai thác những tư liệu đã thu thập từ mấy chục năm nay. Cho đến bây giờ, Giáo sư Trần Văn Khê – một con người tài năng, có ảnh hưởng lớn trong nền âm nhạc dân tộc của nước ta và cả thế giới, dường như chỉ có một hai người “phác thảo chân dung” của ông một cách sống động và toàn diện.

Nguồn tổng hợp
 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *