Dòng sông Vàm Nao nổi tiếng với nhiều loại “thủy quái” nguy hiểm

Dòng sông Vàm Nao nổi tiếng với nhiều loại “thủy quái” nguy hiểm

Thế kỷ XVII, để mưu tìm sự sống, những đoàn lưu dân miền ngoài lần lượt vào Nam khẩn hoang lập nghiệp. Kẻ đến trước men theo sông Tiền, tha hồ chọn đất giồng đất bãi, người đến sau không thể không tiến dần vê phía thượng nguồn.

Ta biết, từ thượng nguồn đổ về, nhánh sông Tiền nhận nước nhiều hơn nhánh sông Hậu. Mùa nước nổi, hiện tượng xâm thực diễn ra ở sông Tiền rất dữ, nhất là những nơi nhằm ngay mũi nước như tại Vàm Trước sông Vàm Nao, phía tả ngạn (xã Kiến An, huyện Chợ Mới nay) nơi đây ngày trước, năm nào đất cũng bị lở sụp từng mảng lớn, vài ba công đất là chuyện thường, gây thiệt hại rất đáng kể về người và của. Dòng sông Vàm Nao nổi tiếng với nhiều loại “thủy quái” nguy hiểm. Lâu ngày do thuỷ phá kinh Vàm Nao lấn dần ra, lấy một phần hồ bên hữu ngạn và “thôn tính” toàn bộ Xẻo Búng phía tả ngạn nên nó to rộng ra thành sông cái – hồ hẹp lại và trở thành bãi bồi, có chỗ nổi lên thành cồn, còn Xẻo Búng thì đã hoá thân! Có thể nói lúc bấy giờ, đoạn từ Doi Lửa trở lên cảnh vật nơi đây hãy còn quá đỗi hoang sơ, vắng lặng đến rợn người:

Tới đây xứ sở lạ lùng,

Con chim kêu phải sợ con cá vùng phải kinh!

Hãi hùng nhất là tại Vàm Nao, “kinh” đến mức:

Chèo ghe sợ sấu cắn chưn,

Xuống sông sợ đỉa lên rừng sợ ma!

Đó là những câu hát cũ ghi lại dấu ấn của một thời, từ thuở nơi đây còn là rừng thiêng nước độc. Sách Gia Định thành thông chí khi thuật kể về cái chết của ông Nguyễn Hữu Cảnh (năm 1700 – do sơn lam chướng khí bạo hành) đã ghi nơi đây là “ác địa”! Cho đến nay ông già bà cả sống cố cựu ở địa phương mỗi khi kể lại cho con cháu nghe về những câu chuyện của dòng sông này, người nghe không thể không rùng mình, rởn óc mặc dù vẫn biết đó là chuyện cũ, đã diễn ra cách nay đến mấy trăm năm. Vàm Nao từng là con sông dữ nổi tiếng. “Khởi thuỷ” thuỷ mạch chính của nó chỉ là một “con kinh trời sanh” vốn rất hẹp, cạn đến mức cành cây lớn hai bên bờ giao tiếp nhau, gọi giao đu. Toàn vùng cây cối mọc um tùm, cảnh vật sầm uất tối tăm, không ngớt vang lên những âm thanh rừng rú, chỉ với “chim kêu vượn hú” cũng đủ gây kinh hoàng cho người qua lại.

Dòng sông Vàm Nao nổi tiếng với nhiều loại “thủy quái” nguy hiểm - Ảnh 1

Tuy không sâu nhưng do địa hình tự nhiên ở hai bên đặc biệt phức tạp: tả ngạn phía Mỹ Hội là Xẻo Búng rất sâu, còn hữu ngạn là hồ, cạn hơn nhưng rất rộng (gọi hồ Chủ Bó). Rong, cỏ, nhất là lục bình từ thượng nguồn đổ xuống tắp vào dày đặc, cá tôm lấy đó “làm nhà”. Khi trời sa mưa, “nước quay kỳ nhì” cũng là mùa cá đẻ, ở đây chúng đua nhau sinh sản lềnh như nuôi trong hầm. Do đó các loài cá lớn như cá sấu, cá mập, cá đao, rắn… nom theo bắt mồi. Dĩ nhiên “chuột sa hũ nếp” nên định cư luôn. Cứ thế, nó tụ họp cá to cá nhỏ sinh sôi nảy nở. Vàm Nao trở thành “ngư mãn” nên không thể không xảy ra chuyện “cá lớn nuốt cá bé”, tranh chấp nhau, hoặc đùa giỡn nhau… Dù thế nào, Vàm Nao cũng không ngớt tiếng vùng vẫy, quẫy đuôi… của cá, khiến người phải “kinh”!

Sông càng lớn tính dữ càng tăng vì vàm đã lớn rộng, do đó nước càng xoáy mạnh nên nó có tên là sông “Nước Xoáy”, tên chữ là Hồi Oa (nước xoáy vòng). Có lẽ tác giả sách Phương Đình dư đia chí (“xuất bản” năm thứ 12 đời Thành Thái) nhớ lại những trận ác chiến với quân ngoại bang trên sông này, nhất là trận thuỷ chiến khốc liệt diễn ra vào tháng 11.1833, quân ta đã đánh tan quân xâm lược, nên ghi tên là sông “Qua Giang”(sông có xảy ra chiến tranh – can qua). Ghe xuồng đi lại trên khúc sông này gặp gió to rất sợ vì nổi sóng lớn, nhất là sóng lưỡi búa, bởi nó đã nhận chìm không biết bao nhiêu ghe xuồng! Do thế có lẽ ai cũng muốn sông hiền bớt lại. Biết vậy, truyền rằng năm 1700 Nguyễn Hữu Cảnh đã tứ danh là “Thuận Vàm”. Từ ấy có thêm các tên “Vàm Thuận”, “Kinh Thuận”, “Thuận Giang”…

Thời gian chính là vị thần linh ứng nhất trong việc giải quyết thoả đáng nguyện vọng của con người tại đây: sông rộng và sâu, tàu bè đi ngang về tắt ngày càng nhiều, làm “thuỷ quái” kinh dị lặn mất! Vài mươi năm nay, dòng nước không đập mạnh vào bờ Vàm Trước nữa nên tình trạng sụp lở không còn là mối đe doạ thường ngày đối với nhân dân sống trên bờ sông. Con sông đã “thuận”. Đại Nam nhất thống chí ghi: “Kinh Thuận ở cách huyện Đông Xuyên 58 dặm về phía Đông Nam, rộng 4 trượng, sâu 1 trượng, của trên từ Tiền Giang chia ra, chảy về phía Nam chừng 13 dặm. Cửa dưới thông với sông Hậu Giang”.

Ngày xưa, ghe thuyền từ phía trên của Vàm Trước (miệt Chợ Vàm, Tân Châu) muốn đi thuận nước sang phía trên của Vàm Sau (miệt Cái Dầu, Châu Đốc) người ta chọn một thời điểm phù hợp nhất định (tuỳ ngày, theo thuỷ triều), đi lúc nước ròng (chảy xuống) độ chừng đến Vàm Sau gặp nước lớn (chảy lên) thì suốt thuỷ trình đều xuôi nước, vừa nhanh vừa khỏe. Do đó, ngoài những tên gọi vừa nêu, nó còn một tên nữa, khá dài: “Con sông nước chảy vòng cầu”. Sách Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, phần Long Xuyên, tác giả Nguyên Liêng Phong ghi sông “Hồi Hoa”với ý ca ngợi con sông tốt đẹp (như hoa), lợi ích (đã “thuận”):

… Vàm Nao đặt chữ đặt Hồi Hoa

Chỗ nhằm mũi nước chảy qua quanh dòng

Sông Sau sông Trước hai dòng

Phân ra hai ngả ngoài trong vận đào

Các ngả gần chảy nhập vào

Tục kêu là xứ Vàm Nao rõ ràng

Vực sâu như hố như hang

Trưởng sanh cá mập tiềm tàng họa ương

Nay tàu lên xuống đi thường

Lại thêm cồn nổi hẹp đường Vàm Nao

Bấy lâu an ổn ba đào

Con kình bặt dấu âm hao đến rày.

Dòng sông Vàm Nao nổi tiếng với nhiều loại “thủy quái” nguy hiểm - Ảnh 2

Sông Vàm Nao rộng ra, muốn qua sông phải đi đò. Dĩ nhiên chiếc đò khởi thuỷ chỉ là chiếc xuồng nhỏ, sau đến tam bản hai chèo. Nó tôn tại mãi đên hậu bán thế kỷ XX mới chịu chuyển giao qua cho đò máy. Sông to sóng lớn nên hầu như “con đò” bao giờ cũng tròng trành, cho nên ngay khi rời bến, cô thôn nữ chèo đò (không thấy đàn ông chèo) lúc nào cũng tập trung tâm trí theo từng chuyển biến của mây, sóng, gió để luôn luôn kịp thời ứng phó, không dài chuyện với khách. Chính vì lẽ ấy nên có câu hát:

Bắp non mà nướng lửa lò,

Đố ai ve đặng con đò Vàm Nao!

Ngồi trên đò cả tiếng đồng hồ, đôi khi chỉ có hai người giữa sông nước là khách và cô lái đò, thế mà khách vẫn không tài nào ve vãn được! Nhan sắc “con đò” Vàm Nao hẳn rất hấp dẫn, làm mê mệt không ít khách phương xa. Một lần sang sông, vê lại nhà, chàng trai đa tình nào đó đã thầm thương trộm nhớ:

Ở trên Châu Đốc ngó xuống Vàm Nao,

Thấy con cá đao nó nhảy nhào vô lưới,

Anh ngồi anh chắc (chặc) lưỡi,

Không biết chừng nào mới cưới đặng em!

Nói đến cá đao là nói đến loài cá dữ, quê hương của nó là biển cả, tức cá nước mặn nhưng thích nghi được với môi trường nước lợ và cả nước ngọt, đặc biệt là tại những vùng sông sâu nước chảy, tuy không quá to như cá hô, cá đuôi (cũng sông được trong sông, nặng vài trăm kg), thường chỉ khoảng 15 – 20 kg, nhưng vấn đề là vũ khí của nó, mới thoáng thấy ắt phải rùng mình! Không rùng mình sao được khi mà hai bên “cái đao” dài trước mũi nó là một thanh xương răng cửa chơm chởm gai là gai! Bình thường, khi lội, cái đao quơ qua quơ lại, nhìn cũng đủ sờ sợ chứ đừng nói chi những lúc nó “nổi cơn”, bởi hễ nó tấn công thì chắc chắn “đối tượng” sẽ phải lãnh đủ hàng chục vít (đâu chỉ đâm lủng mà còn “ngoáy”!) – hãy liên tưởng: khi ta bị cá trê, cá chốt đâm, nhẹ thôi cũng đã nhức thấu xương, có khi còn hành nóng lạnh cả ngày, huống chi!

Thế nhưng với kinh nghiệm của ngư dân, cộng cùng nghề đánh lưới truyền thống của địa phương, loài cá hung hãn này lần lượt đều sa lưới (một khi đã “nhảy nhào vô lưới” thì không bao giờ sẩy – chẳng qua là tại “cái đao” răng cưa định mệnh của nó mà thôi!). Cá con không bổ sung kịp trước tình hình đánh bắt ráo riết của ngư dân, nên dân số cá đao thưa dần, rồi… tuyệt tích. Cũng từ ấy sông Vàm Nao bỗng nhiên xuất hiện một loại cá mới: cá bông lau. Do vậy câu hát cũ được cập nhật lại, thay vì hát “Thấy con cá đao…” người ta cải biên: “Thấy con cá bông lau nó nhảy nhào vô lưới” – vẫn đảm bảo âm vận, ý nghĩa và nhất là phản ảnh rất sát đúng một loại thuỷ sản đặc hữu của con sông này.

i cá bông lau là một loại thuỷ sản đặc hữu của sông Vàm Nao là rất đúng, và cũng rất… không đúng! Bởi lẽ dân số bông lau được phân bố sống rải rác khắp sông Tiền, nhất là trên sông Hậu, có nhiều ở vùng hạ nguồn, miệt Kế Sách (cồn Cái Trâm, cồn Phong Nẫm), và cù lao Dung (ra cửa Đại Ngãi – Long Phú, Sóc Trăng). Đặc biệt, chúng đã chọn sông Vàm Nao làm nơi quần cư với mật độ dày đặc về tướng mạo thì “cá tra sao bông lau vậy”, nhưng về nhan sắc thì cá tra không sang bằng.

Con cá bông lau da trắng tinh khôi màu bông phấn, lưng phơn phớt xanh, thân hình đầy đặn, khoẻ khoắn và dong dải chứ không “lùn”, và bụng thon chứ không phệ như cá ba sa (mang 3 cục mỡ sa to trong bụng). Ngư dân đánh bắt được chủ yếu là câu và lưới. Câu thì có câu giăng (một đường câu từ 500 – 1.000 lưỡi) và câu quăng (chỉ một vài lưỡi), đều dùng lưỡi to, loại lưỡi nhắp cá lóc, có dằn chì sao cho lưỡi câu cách đáy sông chừng 2m. “Mồi thuốc” là con gián, mỗi lưỡi móc 5 -10 con. Nếu không có gián thì dùng “mồi thúi” kiểu mồi câu cá lăn. Tuy nhiên người ta vẫn thích bắt chúng bằng lưới vì không phải bận tâm vấn đề mồi. Bà con dùng lưới thưa, mặt 12cm loại chỉ nylon, dài trung bình 500 – 600m, hoặc hơn. Trước đây người ta chỉ đánh bắt được cá bông lau vào mùa nước trong, từ tháng 3 đến tháng 7.Dòng sông Vàm Nao nổi tiếng với nhiều loại “thủy quái” nguy hiểm - ẢNh 3

Khoảng mười năm trở lại đây có lẽ do một sự ngẫu nhiên, vào mùa nước đổ, bà con ngư dân hạ lưới xuống sát đáy sông, cũng bắt được loại cá này, nhưng không nhiều bằng. Thành ra bông lau trở thành loại cá “tứ quý”, có quanh năm – tất nhiên “trái mùa” giá phải đắt hơn. Ta biết, sông Vàm Nao là sông cái, to rộng nhưng không dài, chỉ khoảng 6km. Vào mùa nước trong, lúc mặt trời chưa chen lặn, sông Vàm Nao bỗng nhộn nhịp hẳn lên bởi vào lúc này hàng trăm ngư dân đã “ra khơi”, thả lưới “kín sông”, la liệt. Mỗi tay lưới đều có đèn phao mắc theo viền cách nhau khoảng 40m, thế nhưng khi đêm xuống, nếu có dịp theo xuồng lưới ra khơi, hoặc đứng trên phà Thuận Giang lúc đã rời bến, phóng tầm nhìn về Vàm Trẽn hoặc Vàm Dưới của sông, phía nào cũng vậy, xa đến mút mắt, đâu đâu cũng đèn là đèn như sát khít nhau, lung linh kỳ ảo lạ thường, ta không thể không cảm nhận đây là “con sông đèn” vô cùng thơ mộng, như sông Ngân Hà ở hạ giới!

Nói là “kín sông” nhưng người ta cũng có chừa “luồng” nhỏ cặp theo bờ, rộng chừng vài chục mét, vừa đủ để ghe tàu, sà lan đi được, nhưng phải có sự hướng dẫn bằng đèn pha (ra hiệu) của ngư dân trên các xuồng lưới. Sông, ngư dân chia làm 3 bãi: “bãi trên” ngang chợ Mỹ Lương, phía trên sông Vàm Nao; “bãi giữa” từ Vàm Trước đến bến phà Thuận Giang; “bãi dưới” từ bến phà đến cuối sông. Bãi nào cũng có khoảng 40 – 50 xuồng lưới, mỗi xuồng 2 người, thường là vợ chồng, họ thả lưới chen khít, chỉ cách nhau chừng 10 – 15m. Thời điểm cá đâm lưới là vào lúc “nước nhửng” (giữa hai con nước lớn và ròng), lúc này nước chảy yếu và không xuôi rõ một dòng, do đó hàng trăm tay lưới do gió bê nước vận đều nhè nhẹ trôi một cách tuỳ tiện, thành ra như “ma trận”, cá lội bất kỳ hướng nào cũng không thoát lưới!

Do đặc điểm nhất định của sông nước, việc đánh bắt nơi đây hầu như ai cũng như ai chứ không có gì gọi là bí quyết cả – trúng hay thất là chuyện “hên xui”. Thường thì một đêm người ta chỉ đánh hai vác, mỗi vác kể từ khi thả lưới đến lúc kéo lên khoảng 4 tiếng đồng hồ. Vác đầu hôm dính cá không nhiều bằng vác khuya. Vào những ngày cao điểm, bình quân một đêm mỗi xuồng lưới được 4 -5 con hoặc hơn, mỗi con trung bình từ 6 -8kg, giá cân cho bạn hàng tại bến hoặc cho những người mua làm quà gửi cho người thân khoảng 25.000 – 35.000 đồng/ kg – “rẻ như cá linh”! Vậy mà mỗi ngày xỉu xỉu cũng kiếm được chút triệu. Ai nây săm vàng đeo đỏ tay, nhưng qua mùa rồi thì có khi cũng phải bán thôi! Nghề “hạ bạc” mà!

bông lau bán chợ được cắt ra từng khoanh với 3 giá khác nhau (giao động tuỳ buổi chợ cá nhiều hay ít): phần đâu, ngon nhất nhưng xương nhiều, nặng, nên rẻ; phần bụng do mỡ nhiều và có bộ ruột, gọi "khúc giữa” giá mắc hơn phần đầu, nhưng rẻ hơn phần đuôi (toàn nạc). Cá bông lau chủ yếu chỉ có một xương giữa, không xương hom, nên dễ ăn, ngon đáo để là bao tử của nó. Cá bông lau có thể chế biên được hàng trăm món (như cá tra, cá ba sa), nhưng do là cá quý, là “thuỷ sâm” nên bao giờ người ta cũng tranh thủ thưởng thức lúc cá còn tươi, ngay khi mới mua về (tức không làm khô, làm mắm như các loại cá khác), và hầu như ai cũng chỉ chế biến mấy món ngon truyền thống là kho (kho lạt, kho mẳn…), ướp muối sả chiên tươi, ăn với cơm, nhậu cũng ghịch!

Gì thì gì, các bà các chị không thể không dành ra vài khứa nấu cho được nồi canh chua (lẩu chua) bởi đó là món tuyệt ngon khoái khẩu, đã định hình và thành danh ít lắm cũng đã từ nửa thế kỷ nay. Chính vì ai cũng rất ưa thích nên những tháng trái mùa, cá hiếm, cung không đủ cầu, không ít quán ăn đã mạn phép thay cá bông lau bằng cá tra – tất nhiên khi tính tiền họ không dại gì tính rẻ mà “buộc lòng” phải tính đúng giá “canh chua cá bông lau”! Với ai đó, họ có thể "qua mặt” chứ với người sành ăn, hoặc dân Vàm Nao – An Giang thì… “xin lỗi”, hổng dám đâu!

Cá bông lau thuộc loại cá da trơn, là cá quý, là “thuỷ sâm”, thịt ngon gấp mấy lần cá tra, cá ba sa. Đáng tiếc là cho đến nay chưa thấy các nhà khoa học thuỷ sản để tâm nghiên cứu sinh sản nhân tạo, cung cấp giống, để loại cá này sớm trở thành vật nuôi đại trà, thiết thực góp phần phát triển hơn nữa kinh tế thuỷ sản nước nhà. Và, sông Vàm Nao mùa cá bông lau về đêm lung linh huyền ảo đến vậy: đêm đêm, hàng trăm con cá to đua nhau “nhảy nhào vô lưới”. Tặng phẩm của dòng sông hấp dẫn đến vậy thế mà lâu nay chẳng thấy ai để tâm khai thác tour du lịch nào. Cũng là điều đáng tiếc! 

Nguồn tổng hợp

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *