Đi tìm ẩn số của nền văn hóa hấp dẫn thời Ai Cập cổ đại

Đi tìm ẩn số của nền văn hóa hấp dẫn thời Ai Cập cổ đại

Hiếm có nền văn minh nào bí ẩn và hấp dẫn hơn Ai Cập cổ đại. Nhiều câu hỏi vẫn chưa có lời giải đáp dù các nhà nghiên cứu đã nỗ lực hàng năm trời tìm kiếm.

Theo sự phân loại thông thường và phổ biến nhất, văn hoa loài người hấp dẫn thời Ai Cập cổ đại bao gồm hai lãnh vực: văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần. Điều đó hoàn toàn chính xác. Nhưng còn một lãnh vực khác mà lâu nay người ta hay bỏ quên mặc dù nó tham dự tích cực vào cuộc sống, có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với hạnh phúc con người và sự phát triển xã hội. Đó là văn hoa tính dục, nói theo ngôn ngữ giản lược là tính văn hoá (sexculture). Vừa quan hệ tới nhục thể vừa gắn với tinh thần nhưng tính văn hoá không thể qui vào lãnh vực văn hoá vật chất hay văn hoá tinh thần một cách thuần túy. Nó có đặc điểm riêng đủ để hình thành một lãnh vực khác.    

Tính văn hóa

Nói đến văn hoá tính dục, trước tiên cần phân biệt rõ ràng hai giới hạn sinh thực văn hoá và tính văn hoá. Dù quan hệ với nhau mật thiết nhưng không thể đồng nhất chúng. Có thể nói điểm xuất phát của hành vi tính giao của con người gồm hai mục đích: khoái lạc và sinh thực. Có khả năng đối với người này mục đích đầu tiên là quan trọng nhưng đối với người kia thì lại khác. Vào thời nguyên thuỷ, trong một thời gian rất dài, con người không hiểu mối quan hệ giữa tính giao và sinh thực (sinh nở) . Do đó họ tìm khoái lạc ân ái, thỏa mãn nhưng không nghĩ tới kết quả sẽ có con. Còn hiện nay khi đã hiểu rõ mối quan hệ tất yếu đó, nhưng không phải ai cũng thực hiện hành vi tính giao nhằm mục đích có con.

Đi tìm ẩn số của nền văn hóa hấp dẫn thời Ai Cập cổ đại - Ảnh 1

Thậm chí để đạt mục đích không có con, phẫu thuật có thể cắt đứt mối quan hệ này.  Nghĩa là không còn khả năng sinh thực, con người vẫn có khả năng và nhu cầu tính giao. Phân tích như vậy để thấy không thể trộn lẫn hai khái niệm tính giao và sinh thực. Rõ ràng nội hàm của văn hoá tính dục rộng hơn nội hàm văn hoá sinh thực. Sinh thực luôn luôn có quan hệ với tính nhưng trái lại tính không nhất thiết quan hệ trực tiếp với vấn đề sinh thực. Nhưng tính văn hoá luôn luôn quan hệ mật thiết với 2 lãnh vực văn hóa vật chất và văn hoá tinh thần.

Vì sao? Vì sự sáng tạo văn hoá không thể tách rời con người, không thể không dính líu tới sự phồn diễn của nhân loại, không thể cắt bỏ trạng thái tâm lý và sinh lý, sự hợp tác hài hoà của lưỡng tính nam nữ. Mội cái nhìn xuyên thấu sẽ phát hiện văn hoá tính dục có quan hệ với mọi lãnh vực trong cuộc sống.  Các hoạt động sản xuất, tôn giáo, nghệ thuật, ỵ học, sinh vật học, pháp luật, đạo đức, triết học, khảo cổ học, nhân loại học… không một lãnh vực nào không tồn tại yếu tố tính văn hoá.

Do đó, tìm hiểu các nền văn hoá tính dục trên thế giới là một cách tiếp cận quá khứ bằng cái nhìn tổng quan cực kỳ nhân bản. Từ thời nguyên thủy đến nay, có thể nói lịch sử nhân loại là một bộ sử thi về sức mạnh phồn diễn, đồng thơi cũng là bộ biến hoá sử về tính. Vô số sự kiện chứng minh rằng mỗi một bước phát triển thay đổi về tính đều phản ánh sâu sắc sự biến hoá của xã hội. Từ xã hội mẫu hệ đến phụ hệ, từ chế độ quần hôn đến đơn hôn, từ việc tự do tính giao đến bảo thủ, từ sự xa hoa dâm dật của giai cấp thống trị đến hiện tượng phụ nữ chỉ còn là đồ chơi trong tay nam giới, từ quan hệ thân xác đến yêu cầu tình yêu, có thể nói khoa học về tính dục là bó đuốc rực rỡ làm toả sáng dáng nét con người.

Nghiên cứu văn hoá tính dục cổ đại, chúng ta sẽ nhận ra mình trên con đường tìm kiếm cuộc sống tốt đẹp hơn. Từ cư dân nguyên thuỷ đến con người hiện đại, ai cũng muốn cuộc sống hạnh phúc bao gồm cả sinh hoạt tính dục. Đó là món quà thú vị nhất mà con người được trao tặng. Tuy nhiên nếu không văn hoá nó, con người sẽ trở thành một quái vật và tính đẩy chúng ta từ cực khoái lạc sang cực đau khổ chỉ trong gang tấc! Trong chiều hướng đó, chúng ta đến với khu vực Cận Đông. Cận Đông là khu vực khởi nguyên sớm nhất của nhân loại, bao gồm Ai Cập, Babylone, Do Thái, nơi xuất hiện nền văn minh cổ đại của người Sumer.

Theo pháp luật cổ Ai Cập, địa vị nam nữ bình đẳng. Nhưng trong thực tế, chỉ có người có tiền mới có đời sống độc lập. Đương thời, người phụ nữ rất khó kiếm tiền, con đường duy nhất của họ là ca múa, một loại hình nghề nghiệp đòi hỏi tài nghệ âm nhạc và nghệ thuật kỹ nữ. Nói cách khác, người phụ nữ chỉ co thể kiếm tiền dưới vai trò công cụ tính dục không hơn không kém. Ngoài con đường đó, nếu không là thê thiếp, phụ nữ phải làm nô lệ và đời sống của họ hoàn toàn phụ thuộc người đàn ông.

Phương thức nghiệm thai cách đây 4.000 năm

Trong sử liệu của Herodotos (484 – 425 trước CN) có một đoạn ghi chép về một vị Pharaoh muốn tự mình xây dựng một kim tự tháp riêng. Nhưng vì không có tiền, vị Pharaph nay bắt buộc con gái mình làm nghề mại dậm để thực hiện dự định. Không dám chống cự, cô gái làm theo lời cha. Và chính cô cũng nghi tới một “vật kỷ niệm” cho bản thân nên yêu cầu mỗi người đàn ông đến với mình đều phải mang theo một khối đá xây dựng. Và cô đã sử dụng chúng để kiến tạo một toà kim tự tháp nhỏ cho mình. Thẩm định độ chân thực trong câu chuyện trên là điều không đơn giản. Tuy nhiên trong một giới hạn nhất định, nó phản ánh vận mệnh bi thảm của người phụ nữ trong xã hội Ai Cập cổ đại.

Đi tìm ẩn số của nền văn hóa hấp dẫn thời Ai Cập cổ đại - Ảnh 2

Công tác khảo cổ khai quật được những bọ xương phụ nữ Ai Cập cho thấy họ là tầng lớp thấp nhất trong xã hội: cánh tay của họ thường bị gãy, xương sọ thường bị chấn thương. Theo giải thích của các nhà nhân loại học, đó là vết tích của một hiện tượng phổ biến trong xã hội đương thời: người phụ nữ luôn luôn bị hành hạ, bị đánh đập, tay họ bị gãy vì thường giơ lên hứng chịu những trận đòn. Theo tập tục xã hội cổ Ai Cập, khi người chồng phạm tội, người vợ phải bị xử phạt và hình thức thông thường nhất là biến họ thành nô lệ. Khoảng 3.000 năm trước CN, xinh đẹp và hấp dẫn không phải là điều kiện của một ngươi vợ lý tưởng ở khu vực Cận Đông.  Vì sao? Vì người phụ nữ hấp dẫn sẽ bị coi là ma quỷ, còn sắc đẹp chính là tai hoạ – Theo phong tục Do Thái, người vợ phải im lặng cho chồng lấy vợ bé.

Nếu người vợ phản đối hành vi này của chồng, đó là điều kiện để chồng ly hôn. Trái lại, người vợ thiếu chung thủy thì sẽ bị xử tử bằng hình thức ném đá (riêng tại Ai Cập, nếu không bắt quả tang tội ngoại tình và người vợ thề rằng mình vẫn chung thuỷ thì không thể kết tội và trừng phạt họ được). Trong khi đó nhiều dân tộc thiểu số vùng Cận Đông tỏ ra rất phóng khoáng trong quan hệ nam nữ. Người Nathanise theo tập tục có rất nhiều vợ. Họ quan hệ với phụ nữ rất tuỳ tiện: thích cô gái nào, chỉ cần phóng vào nhà cô ta một cây gậy, rồi tiến hành chuyện gối chăn mà không sợ ai can thiệp.

Khi người đàn ông cưới người vợ thứ nhất, theo tập tục truyền thống, đêm đầu tiên, cô dâu phải tuần tự ngủ với khách đến dự tiệc. Anh chàng nào muốn được vinh dự này thì phải mang tới lễ vật đáng giá cho tân nương và tặng nàng sau lúc ân ái. Lễ vật của cô dâu càng nhiều, chú rễ càng cảm thấy tự hào! Về thực chất, đó là hình thức 1 vợ nhiều chồng từng tồn tại trong lịch sử văn minh nhân loại. Mãi đến năm 2350 trước CN, vua Sumer mới chấm dứt tập tục nhất thê đa phu, song tập tục nhất phu đa thê vẫn tiếp tục tồn tại. Theo sử liệu, vua Salomon (thống trị trong khoảng thời gian 955 – 935 trước CN) từng tự hào mình có tới 700 “thê tử’ và 300 “danh thiếp”.

Tại Ai Cập thế kỷ thứ III trước CN, chế độ 1 chồng nhiều vợ rất phổ biến rồi sau đó mới dần dần chuyển hoá thành hình thức 1 vợ 1 chồng do điều kiện kinh tế. Tuy nhiên nếu đủ sức có nhiều vợ, người đàn ông vẫn có thể tiến hành “thu thê nạp thiếp”, xã hội không can thiệp. Trong tiếng Babylone, vợ thứ nhì được mệnh danh là “người đố ky”; điều đó chứng tỏ mối xung đột của bà các trong sinh hoạt của một gia đình nhất phu đa thê. Khi nghiên cứu một cuốn sách ra đơi vào năm 1900 trước CN tại Ai-Cập – tài liệu tối cổ về y học của nhân loại, một học giả người Đức xác nhận được một số bệnh ở cơ quan sinh dục phụ nữ, do bị kích thích quá độ, hoặc do tảo hôn. về phía nam giới, tài liệu y học này cũng đề cập đến hiện tượng dương suy và gọi đó là tình trạng “mất khí thế của đàn ông trước người phối ngẫu”.

Người Cận Đông thời xưa đặc biệt lưu ý vấn đề mang thai của phụ nữ và đã từng thử nghiệm để biết một người có thai hay không. Nghĩa là cách nay 4.000 năm, con người cũng biết “nghiệm thai”. Bác sĩ Ai Cập cổ đại thực hiện thử nghiệm này như sau: cho hạt giống tiểu mạch và đại mạch vào hai túi vải khác nhau, mỗi ngày người phụ nữ mang nước tiểu của mình tưới lên đó. Nếu lúa mạch nẩy mầm, đó là dấu hiệu người phụ nữ đã mang thai. Thử nghiệm này còn trả lời được câu hỏi về giới tính của thai nhi trước lúc người mẹ sinh nở.

Quan sát hai túi vải xem tiểu mạch hay đại mạch nẩy mầm trước, người thử sẽ có kết quả: nếu tiểu mạch nảy mầm trước, sẽ sinh con trai; trái lại sẽ là con gái. Vì sao? Đơn giản chỉ vì tiểu mạch có giá trị kinh tế hơn đại mạch! Bên cạnh việc nghiệm thai, người Cận Đông cũng từng thử nghiệm ngừa thai. Khi con người ý thức về mối quan hệ giữa tinh dịch và hiện tượng thụ thai, biện pháp ngừa thai sớm nhất là hình thức giao hợp gián đoạn. Đương thời nhân khẩu chưa nhiều, người ta quan niệm lắm con nhiều cháu là hạnh phúc. Tuy nhiên do áp lực kinh tế, có gia đình cũng tìm cách hạn chế sinh nở. Trong chiều hướng đó, người cổ Ai Cập đã nghĩ tới nhiều phương cách để ngăn chận tinh trùng tiến vào tử cung.

Theo cuốn y thư tối cổ của Ai Cập, phương pháp ngừa thai sớm nhất được tiến hành như sau: Lấy phân cá sấu trộn với loại hồ auyt (đến nay vẫn chưa rõ đây là chất gì) để làm thành tấm màn (như bông gòn), đặt vào âm đạo. Thực ra từ thế kỷ 13 về trước, thế giới Ả Rập đã dùng phân voi để làm thuốc kỵ thai. Nhưng so với nhiều phương pháp hạn chế sinh nở, hình thức giao hợp gián đoạn có vẻ thọ mệnh lâu hơn cả vì nó đơn giản, không tốn tiền và hiệu quả khá cao.

Đi tìm ẩn số của nền văn hóa hấp dẫn thời Ai Cập cổ đại - Ảnh 3

Hình thức hôn nhân loạn luân của các Pharaoh

Mặc dù chủ trương hình thức hôn nhân “huynh chung đệ cập” (người anh mất, ngươi em có bổn phận trở thành chồng của chị dâu), Do Thái nghiêm cấm mọi hành vi loạn luân trong huyết thống. Kinh Cựu ước từng chỉ rõ “người đàn ông không được nhìn thấy chị em ruột của mình trong tình trạng khoả thân, tuyệt đối không được thoát y cháu nội, cháu ngoại (nữ)…”. Việc cấm loạn luân của ngươi Do Thái có phạm vi rất rộng. Do nam giới thường giữ vai trò chủ động trong hoạt động tình dục nên pháp luật qui định tội chủ yếu phải thuộc về người đàn ông. Vi phạm luật cấm kỵ này, nếu nhẹ sẽ bị đánh bằng roi, nếu nặng sẽ bị ném đá đến chết hoặc thiêu sống.

Cấm kỵ loạn luân của người Do Thái bắt nguồn từ những tập tục xa xưa, ít nhiều chịu ảnh hưởng của người Aztec và người Ai Cập. Trong thời gian dừng lại ở Ai Cập, lực lượng Do Thái chiêm nghiệm hình thức hôn nhân loạn luân của các Pharaoh chỉ sinh toàn con gái. Họ muốn né kỵ điều này và hy vọng có nhiều con trai để chủng tộc hùng mạnh. Vì thế, họ tuân thủ nguyên tắc cấm loạn luân. Trong lịch sử lâu dài của Ai Cập cổ đại, các cuộc hôn nhân của vương thất đi từ sai lầm này đến sai lầm khác do các mối quan hệ chính trị phức tạp. Mặc dù không phải không có trường hợp nữ vương nắm quyền thống trị, nhưng tình huống này thường khiến vương triều gặp nhiều phiền phức.

Khó có thể xác định bắt đầu từ lúc nào vương thất Ai Cập xuất hiện hình thức hôn nhân loạn luân để dẫn tới hậu quả ác tính: hoàng hậu chỉ sinh con gái; chỉ có người vợ thứ 2 hoặc các phi tần mới có khả năng sinh con trai. Quyền kế thừa của hoàng tử dĩ nhiên rất hợp pháp, nhưng sức khoẻ của chàng trai này thường kém cỏi, bạc nhược! Vua Aminuphi Vương triều 18 (1570 trước CN -1220 trước CN), người tự xưng là Pharaoh thần bí, là một điển hình về tình trạng này. Từ các bức tượng và tranh chân dung, các nhà chuyên môn suy đoán có khả năng vị Pharaoh thần bí này mắc chứng kết hạch ở phổi, cường tuyến não thuỳ thể, tuyến sinh thực yếu, tứ chi phì đại.

Vì thế đời sống tình cảm của Aminuphi IV cũng không bình thường. Người vợ thứ I của ông là ai? Là Dite – mẹ của ông – và 2 người có một đứa con gái. Người vợ thứ II là một cô em họ và sinh hạ 3 con gái. Vợ thứ III và thứ IV không phải là những cô gái cùng huyết thống với vua và họ đã sinh con trai. Người vợ thứ V cũng là người cuối cùng chính là con gái thứ 3 của Aminuphi với người vợ thứ II của ông. Lấy con gái, vị Pharaoh thần bí này có thêm một con gái nhưng đã yểu tử. Mặc dù trong các cuộc hôn nhân của mình, Aminuphi không một lần nào cưới vợ vì mục đích chính trị nhưng hai hoàng tử của ông thì khác. Để củng cố vương quyền, một người kết hôn với em gái cùng cha khác mẹ, không sinh con; người còn lại cũng như vậy và vợ có mang nhưng bào thai chết trong bụng mẹ. Đó là hình ảnh thu nhỏ về hình thức hôn nhân loạn luân của các Pharaoh Ai Cập.

Kỹ nữ Babylone

Nếu định nghĩa nghề nghiệp là công việc suốt ngày mang tính chuyên nghiệp hoá của một người thì nghề nghiệp đầu tiên trong lịch sư nhân loại là “vu y” rồi sau đó là kỹ nữ, nghề nghiệp ra đời cách nay đã mấy ngàn năm, thậm chí trên 1 vạn năm. Khi vũ y xuất hiện nơi thần điện để lo việc tế tự thì kỹ nữ cũng tìm được một nơi thích hợp để sống. Trươc đây 4.000 năm, trong một tập thơ tự sự, người Sumer đã miêu tả cuộc đời mạo hiểm của vị anh hùng mang tên Gilmis, từ đó phản ánh triết lý nhân sinh của một dân tộc. Gilmis là một nhân vật nổi tiếng phong lưu với 2/3 chất thần và 1/3 chất người. Tính chất này đã khiến Gilmis trở thành người chinh phục đầy quyến rũ đối với các bà vợ quý tộc và những con gái cưng của các chiến sĩ. Nói cách khác, vì con người phong lưu ấy, các bà các cô đã làm mất đi sự trinh trắng của mình một cách không tiếc nuối.

Để chong lại điều độ, nữ thận Along sáng tạo quái vật khổng lồ Iker. Sống trong bầy dã thú ở vùng đại thảo nguyên, Iker cực kỳ dũng mãnh và dã man. Biết không phải là đối thủ về sức mạnh của quái vật khổng lồ này, Gilmis tìm phương cách khác để chinh phục kẻ thù. Thế là chàng trai mưu trí ấy tìm đến thần điện, lựa chọn một kỹ nữ trẻ đẹp để thuần phục Iker. Cô gái này, bằng nghệ thuật yêu đương, đã ở bên Iker 6 ngày 7 đêm khiến Iker nhu nhược. Đến lúc Iker phục hồi công lực, bằng ngôn ngữ dịu dàng, người kỹ nữ này miêu tả thế giới văn minh kỳ diệu, mỹ miều cho hắn nghe. Và sau đó như một người mẹ, cô gái đưa Iker rời bỏ vùng thảo nguyên hoang dã để tới bình nguyên văn minh.

Vào thời đại Babylone và Sumer, kỹ nữ không phải là một nghề nghiệp bị coi rẻ. Dưới thời vua Hamalabi chấp chính (năm 1750 trước CN), nơi thần điện ngoài nam tế tư, thợ, người làm công, còn không ít “nữ tế tư” rất được tôn kính, họ thường xuất thân trong các gia đình cao quý. Ngoài ra còn có những “kỹ nữ thánh chức”. Đến nay dù chưa thể xác định được nhiệm vụ chính của những kỹ nữ thánh chức” này là gì nhưng có thể nhận ra khởi nguyên của nó là “nghi thức sinh thực” và thu nhập của họ trở thành nguồn kinh tế chủ yếu của thần điện. Sau Hamalabi 1.000 năm, sử gia Hy Lạp Herodotos khi bàn về hình ảnh kỹ nữ trong thần điện Babylone đã viết: “Người Babylone có một tập tục hết sức kỳ lạ và là điều sỉ nhục dưới mắt chúng ta, nhưng dĩ nhiên là điều bình thường đối với họ.

Đó là bất kỳ người phụ nữ nào cũng phải một lần đến thần điện để chung chăn gối với một người đàn ông xa lạ. Nhiều người phụ nữ có tiền, có thân phận cao quý cũng làm như vậy theo cách của họ: ngồi trên những chiếc xe song mã phủ rèm kín, họ đến thần điện với cả đoàn thị tì”. Kỹ nữ thánh chức Babylone gồm 3 loại. Một là Hayimtu có thế’ là dạng kỹ nữ bán tục hoá; hai là Padishtu – nhân viên chính thức và ba là Isheayitn – người phục dịch của nữ thần Ishtay. 

Nguồn tổng hợp


 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *