Có những xét nhiệm đặc biệt cần thiết cho bệnh nhân cao huyết áp

Có những xét nhiệm đặc biệt cần thiết cho bệnh nhân cao huyết áp

Hiện nay, đo huyết áp thường xuyên là biện pháp hữu hiệu nhất, giúp bạn sớm phát hiện mình bị tăng huyết áp để chữa trị kịp thời.

Một đôi khi, trong lúc khám cho bệnh nhân tăng huyết áp, bác sĩ phát hiện những triệu chứng làm nghĩ đến một bệnh tăng huyết áp thứ phát, bác sĩ có thể chỉ định một số xét nhiệm đặc biệt cần thiết cho bệnh nhân cao huyết áp sau đây để có chẩn đoán xác định.

Các xét nghiệm về thận

Intravenous Pyelogram (Gọi tắt là IVP – Chụp X-quang thận có cảm quang)

IPV giúp phát hiện một số bệnh thận gây ra tăng huyết áp. Chất cản quang được tim vào tĩnh mạch trên cánh tay của bệnh nhân, đi qua thận và hiện rõ trên một loạt tấm phim được chụp trong khoáng thời gian 30 phút. Chất cản quang có thể gây ra cho bệnh nhân cảm giác nóng bừng thoáng qua và đôi khi cũng làm nổi mận trên da nếu bệnh nhân bị dị ứng với chất này. Người ta ước lượng khoảng 5% đến 10% trường hợp cao huyết áp do thận gây ra. Ví dụ, một quá thận có thể bị teo lại do nhiễm trùng trong quá khứ hay tuần hoàn của quả thận đó bị giảm thiểu. Hai quả thận quá lớn, thường là bệnh thận đa năng. Bệnh này thường có tính cách di truyền.

Có những xét nhiệm đặc biệt cần thiết cho bệnh nhân cao huyết áp - Ảnh 1

Renal Arteiogram (Chụp động mạch thận)

Cách làm Arteriogram cũng giống như IVP, chỉ khác ở chỗ thay vì tiêm chất cản quang ớ tĩnh mạch cánh tay, người ta tiêm vào tĩnh mạch ở một bên bẹn (háng) của bệnh nhân. Khi làm Arteriogram bệnh nhân thấy khó chịu hơn là IVP. Tuy nhiên chính xác hơn vì cách chụp hình này giúp phát hiện động mạch thận bị hẹp dễ dàng hơn. Trường họp một trong các động mạch thận bị hẹp gây cao huyết áp, người ta có thế giải quyết bằng cách nới rộng  động mạch: nong động mạch, hay giải phẫu động mạch thận.

Với phương pháp nong động mạch, người ta đưa một quá bóng vào chỗ hẹp động mạch, sau đó bơm quả bóng lên để nong động mạch. Nếu cần thiết, người ta mổ bụng, dùng mạch một đoạn tĩnh mạch lấy ra từ chân bệnh nhân (saphenous vein by-pass), đế làm một cầu nối chỗ động mạch bị hẹp hay dùng một ống nhựa nhân tạo (Dacron patch graft) để đưa thẳng máu vào thận từ động mạch chủ bụng.

Digital Subtraction Angiopraphy (Gọi tắt là DSA)

DSA được thực hiện bằng cách tiêm chất cản quang vào tính mạch (venous DSA) hay vào động mạch (arterial DSA): Phương pháp này dùng kỹ thuật vi tính để chụp X-quang (digital subtraction). DSA cần ít chất cản quang hơn Angiogram nhưng lại ít chính xác hơn. .

Các xét nghiệm về tim

Echocardiogram (gọi tắt là Echo – Siêu âm tim)

Echo tim là một xét nghiệm không đau, dùng siêu âm đưa hình ảnh quả tim lên màn hình ti vi. Echo đo được bề dầy của các thành tim một cách chính xác, nhất là vách trái của tim, thường bị dày lên nhiều, sau một thời gian dài tăng huyết áp, được gọi là dày thất T (LVH). Bề dày bình thường của vách T của tim, ớ thời kỳ tâm thu nhỏ hơn 1 inch. Echo cũng đo được kích thước các phần rỗng của tim, cho biết sự co bóp của tim có tốt không và sự hoạt động của các van tim có bình thường không.

Có những xét nhiệm đặc biệt cần thiết cho bệnh nhân cao huyết áp - Ảnh 2

Mang máy theo dõi (Holder monitoring)

Mang máy theo dõi thực chất là một điện tâm đồ liên tục trong 24 giờ, giúp phát hiện các giai đoạn bất thường của tim bạn, hay những nhịp tim bất thường xảy ra trong lúc bạn đang làm các công việc bình thường hàng ngày hay trong lúc bạn đang ngủ. Holder monitoring giúp tìm thấy những bất thường mà ta không phát hiện ra trong 2 phút khi thực hiện một điện tâm đồ (EKG) ở tư thế nằm nghỉ. Người ta dán chặt những điện cực trên ngực bệnh nhân, được nối liền với một máy thu băng nhỏ chạy bằng pin đeo trên người bệnh nhân.

Treadmill Exercise

Treadmill được chỉ định khi bạn bị đau ngực nghi ngờ do thiểu năng tuần hoàn tim. Loại đau ngực này còn gọi là cơn đau thắt ngực. Treadmill được thực hiện ở phòng xét nghiệm, với một máy tương tự như máy tập đi bộ, có thể chạy mau hay chậm và nghiên ở nhiều góc độ. Đi trên máy này có tác dụng như đi lên hay xuống một thang gác, và nhịp tim sẽ tăng lên, trong khi máy EKG sẽ chạy liên tục trong thời gian đó, để xem sự vận chuyển của máu vào tim có đáp ứng với nhu cầu khi có sự gắng sức hay không.

Thường thường treadmill test được kết hợp với isotropic scan để quan sát sự tưới máu ở các vùng của tim. Nếu treadmill test cho kết quả bình thường có nghĩa là chứng đau ngực của bạn không do bệnh của động mạch vành, nhưng cũng không loại trừ một cách hoàn toàn khả năng này. Ngược lại nếu có dấu hiệu thiếu máu cơ tim trên EKG, thì chắc chắn chứng đau ngực của bạn là do bệnh  mạch vành,ở trường hợp này bác sĩ có thể chỉ định thêm một số xét nghiệm khác.

Các xét nghiệm khác

Xét nghiệm nước tiểu 24: Xét nghiệm này một đôi khi được làm cho bệnh nhân tăng huyết áp. Nước tiểu lấy được trong 24 giờ được đổ vào trong một cái bình nhựa. Kết quả phân tích hóa học cho biết thận của bạn có hoạt động bình thường hay không, hay thải ra ngoài quá nhiều protein (chất đản bạch), một bệnh gọi là protein niệu. Xét nghiệm cũng cho biết số lượng các chất khoáng như sodium, potassium, và calcium.

Đôi khi xét nghiệm này cũng dùng đế đo số lượng một số chất kích thích tố (hormones) đặc hiệu liên quan đến tăng huyết áp. Các loại kích thích tố này gồm catecholamines, metanerphrine và vanillylmandelic acid (VMA). Các kích thích tố này trong máu tăng cao, cho biết có sự hiện diện của bướu thượng thận với các triệu chứng như cơn xuất đổ nhiều mồ hôi, tim đập nhanh và nhức đầu như nghiền (búa bổ).

Có những xét nhiệm đặc biệt cần thiết cho bệnh nhân cao huyết áp - Ảnh 3

Các xét nghiệm máu đặc biệt 

Xét nghiệm đặc biệt (kích thích tố tuyến giáp, rennin catecholamines, aldoste-rone): Một vài xét nghiệm máu đặc biệt được thực hiện để đo số lượng một số kích thích tố hay các chất hóa học có thể dự phần làm tăng huyết áp.

– Kích thích tố tuyến giáp: Trong bệnh cường giáp (hyperthyroidism), sự gia tăng của các kích thích tố tuyến giáp có thể gây tăng huyết áp.

– Renines: Một khi bị thiếu máu nuôi dưỡng, thận tiết ra renine, chất này cũng làm tăng huyết áp. Do đó, renine tăng cao cho biết có thiếu máu thận và trong trường hợp này bạn cần chụp X quang động mạch thận (renal arteriogram hay DSA).

Catecholamines: Khoảng 1/1000 bệnh nhân tăng huyết áp có bệnh bướu thượng thận (pheochromocytoma). Bướu thượng thận tiết ra nhiều loại kích thích tố gọi chung là catecholamines. Có ít nhất là 3 thứ kích thích tố trong nhóm này (norepinephrine, epinephrine và dopamine) có thể đo được, và nếu lượng quá cao, cần có chí định làm CAT scan bụng để tìm bướu thượng thận.

– Aldosterone: Bướu thượng thận cũng có thể tiết ra nhiều aldosterone. Aldosterone trong máu tăng cao cũng làm cao huyết áp và làm mất nhiều K qua nước tiểu, do đó làm giảm lượng K trong máu dẫn đến yếu cơ và rối loạn nhịp tim.

Trên thực tế, bạn hoàn toàn có thể xác định nguy cơ tăng huyết áp thông qua phép kiểm tra mắt đơn giản. Bác sĩ nhãn khoa sẽ dùng một thiết bị chuyên dụng để kiểm tra các mạch máu nhỏ nằm phía sau nhãn cầu, từ đó sớm phát hiện tổn thương do tăng huyết áp. Trong trường hợp tăng huyết áp, những mạch máu nhỏ này (gọi là mao mạch) này sẽ bị xơ cứng, thu hẹp hoặc vỡ. Tổn thương mao mạch nhãn cầu thường là dấu hiệu cho thấy mao mạch tại những vị trí khác (như thận) cũng đang chịu tổn thương.

Nguồn tổng hợp
 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *