Ca sĩ Chantal Goya chia sẻ “Tuổi thơ tôi bỏ lại ở Sài Gòn”

Ca sĩ Chantal Goya chia sẻ “Tuổi thơ tôi bỏ lại ở Sài Gòn”

Chantal Goya chào đời ở Sài Gòn, Việt Nam năm 1944 được một chị vú người Hoa , Assam – mà cô bé vô cùng yêu quí nuôi dưỡng.

Khi chiến tranh bùng nổ, gia đình Chantal Goya phải rời Đông Dương về Pháp. Cuộc phân ly với Assam là nỗi đau xé lòng đối với cô bé. Năm 1964, Chantal Goya trở thành “Nàng Thơ” của tạp chí Mademoiselle âge tendre (Tuổi mộng), thời tổng biên tập Daniel Filipacchi. Sau khi diễn xuất trong một số phim, năm 1972, Chantal Goya thể hiện rất thành công những bài hát dành cho trẻ em do chồng là Jean – Jacques Debout sáng tác. Năm 1984, bà nổi tiếng với nhạc kịch Le mystérieux voyage de MaJie – Rose. Bà trở lại lĩnh vực thời trang năm 2000. Dưới đây là hồi ức của Chantal Goya.

Cha và mẹ tôi quen nhau ở Việt Nam. Ông ngoại tôi hành nghề bác sĩ tại đây và đưa con gái theo. Mẹ tôi lúc ấy vừa 18 tuổi, đang theo học năm cuối Trường trung học Pháp tại Sài Gòn. Cha hơn mẹ 10 tuổi, vừa tốt nghiệp khoa chính trị học quyết định đến Việt Nam để điều hành một đồn điền cao su. Hôn lễ diễn ra tại giáo đường Sài Gòn. Một năm sau, 1994, tôi chào đời tại một dưỡng đường nằm trong khu phố của người Hoa ở Sài Gòn, người đỡ không ai khác hơn là ông ngoại. Do phải tiếp tục việc học, mẹ tôi giao việc trông nom tôi cho chị vú người Hoa, tên Assam, đặt theo tên quê hương của chị.

Chantal Goya thể hiện rất thành công những bài hát dành cho trẻ em

Như nhiều phụ nữ khác cùng quê, chị Assam nguyện không lấy chồng, mà ao ước được làm công việc chăm sóc trẻ. Tôi nhanh chóng quyến luyến con người hồn hậu, tận tuy và nề nếp ấy. Tôi vẫn còn nhớ gương mặt tròn, cặp mắt dài xếch, vừa bí ẩn vừa ánh nét vui tươi của chị. Assam tính kín đáo, không để lộ cảm xúc. Thật khó biết chị có buồn hay không. Khó đoán tuổi của chị qua nét mặt, tôi ước chừng chị khoảng 28 tuổi. Assam khéo may vá. Áo và váy của tôi đều do chị thêu. Tôi rất mê những chuyện chị kể, có thể nói tôi lắng nghe một cách thành kính, ngưỡng mộ. Tôi yêu chị, không muốn rời xa chị.

Mẹ tôi kể khi Assam vắng mặt, dù chỉ một buổi xế trưa, tôi vứt bình sữa, lăn ra đất, đòi chị là bằng được. Assam và tôi ở bên nhau được 4 năm. Một tình thân đặc biệt nối kết chúng tôi, chúng tôi biết ý nhau mà không cần nói thành lời. Trong giai đoạn này, tình hình chính trị ở Đông Dương nhanh chóng trở nên bất lợi đối với người Pháp. Nguy hiểm rình rập hàng ngày. Rồi chiến tranh bùng nổ. Gia đình tôi buộc phải rời đồn điền và Đông Dương. Để có thể từ An Lộc đến Sài Gòn nhanh nhất mà không gặp rắc rối, gia đình tôi quyết định tách thành nhiều nhóm. Không có vấn đề toàn gia đình cùng đáp một chuyên tàu.

Mẹ tôi rời đồn điền cùng em trai tôi, Alain; còn tôi được giao cho Assam. Trên đường trốn chạy, chúng tôi ẩn náu nơi nhà những người Việt Nam, bạn của ông ngoại. Chỉ di chuyển vài cây số cũng phải mất rất nhiều giờ, thường là đi bằng xe bò. Cuối cùng, Assam và tôi cũng đến được sông Mékong, chúng tôi lên một chiếc ghe xuôi dòng. Dù luôn đòi gặp cha mẹ, em trai, tôi vẫn biết Assam luôn ở cạnh tôi để bảo vệ và tôi hoàn toàn tin tưởng chị. Assam trấn an tôi, bảo rằng chúng tôi đang dự một chuyến du lịch xa. Trong những ngày lưu lạc ngắn ngủi ấy, chúng tôi chỉ ăn cơm, hiện nay cơm vẫn là thức ăn chính của tôi.

Assam đội cho tôi chiếc nón kiểu người Hoa, cộng với bộ trang phục đang mặc, trông tôi như một bé gái người Việt. Tôi không còn nhớ sau bao lâu chúng tôi mới đến được Cảng Sài Gòn. Tôi được gặp lại cha mẹ và em trai. Cha tôi nằm trên cáng, do bị sốt rét cấp tính. Chúng tôi chen chúc trong đám đông người Pháp ở chân chiếc tàu khổng lồ sẵn sàng rời bến. Không còn bao thời gian nữa, Assam ấn tôi vào tay mẹ tôi, chẳng nói lời nào, rồi quay lại, biến mất trong đám đông. Hôm ấy là một ngày tháng 6.1948. Assam không thuộc loại người thích biểu lộ tình cảm dạt dào hay nước mắt.

Chantal Goya luôn nhớ về chị vú người Hoa, tên Assam

Trong cái đầu bé bỏng của tôi lúc ấy, cuộc phân ly này là một cú sốc, một mất mát không có gì bù đắp được. Trên tàu, tôi gào khóc, ném đồ đạc của cha mẹ tôi. Tôi không bao giờ gặp lại chị vú người Hoa của tôi nữa. Liệu chị ấy có còn sống? Giờ đây tôi tự hỏi liệu cảm giác trống vắng, sợ hãi cô đơn của tôi phải chăng bvắt nguồn từ cuộc phân ly xé lòng trên? Chúng tôi đến sống ở Toulon, cảnh sắc ở đây sao ủ rũ, màu sắc nhạt nhoà. Thời gian sau đó, gia đình tôi chuyển đến Paris, trời lạnh giá, u buồn. Tôi nhớ Việt Nam. Cuộc sống ở đấy thật thú vị, người dân dễ mến. Một đất nước huyền bí, kỳ diệu!

Gia đình tôi có thêm thành viên. Cả năm người đều ở nhà. Cha tôi bệnh nặng, mẹ tôi cũng có những vấn đề về sức khoẻ. Là con gái đầu lòng, tôi phải đảm đương mọi việc, như Assam trước kia. Tôi chăm sóc các em, như Assam từng chăm sóc tôi. Tôi tin năng khiếu dễ gần trẻ em của tôi là do Assam truyền cho. Assam dạy cho tôi những khả năng cần thiết để tồn tại trong cuộc sống. Tôi đã học từ chị sức mạnh nội tâm, thứ khả năng giúp xoay chuyển các chướng ngại và vượt qua những khó khăn trong đời. Những rắc rối về tiền bạc, việc làm hay sức khoẻ cứ dồn dập ập đến, rối mù.

Tuy vậy, tôi biết nhìn ra vấn đề, phân tích chúng rất nhanh để tìm ra giải pháp. Tôi không bao giờ ngã lòng. Assam cũng giúp tôi phát triển bản sắc và tính hồn nhiên. Giữa hai chúng tôi có một tác động hỗ tương, một sự thông đạt mà tôi không thể giải thích. Có lẽ tôi đã quen thân Assam trong một kiếp trước. Tôi đã cô công tìm Assam. Cùng với con gái, Clarisse, tôi đưa ảnh của Assam và lời rao tìm người lên Internet: “Bé gái từng sống ở đồn điên An Lộc trong khoảng 1944 và 1948 mong gặp Assam”. Nhưng chúng tôi không nhận được một hồi đáp nào.

Có lẽ Assam không có máy tính. Hiện nay, Assam đã đến tuổi thọ 90. Tất cả những gì về chị giờ đây thật xa đối với tôi, đến độ đôi khi tôi có cảm tưởng như từng được nuôi nâng bởi một người đến từ một hành tinh nào khác.

Nguồn tổng hợp

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *